|

|
Đọc hồi kư Đọan
Trường Bất Khuất
của người tù Phạm
Trần Anh
Đào Văn B́nh
Sau hồi kư 26 Năm Lưu Đày của TT. Thích Thiện
Minh, hơn nửa năm sau, một thiên hồi kư tù nữa mới vừa ra đời đó là cuốn
Đọan Trường Bất Khuất của PhạmTrần Anh. Sách dày 402 trang do
Việt Nam Ngày Nay ấn hành, bao gồm hai phần: Phần hồi kư và phần thơ.
Rải rác trong đó là một số bài thơ phổ nhạc của tác giả, vài tấm h́nh
chụp chung với Tú Kếu, Tô Kiều Ngân, nhạc sĩ Châu Kỳ và hai tấm h́nh do
người em lén chụp được khi thân mẫu thăm tác giả tại trại tù trước khi
cụ đi Mỹ định cư, h́nh tác giả sinh họat với Tổng Hội Cựu TNTC/VN v.v..
Phần hồi kư gồm109 trang (từ trang 43 tới 151) và
phần thơ 228 trang (từ trang 152 tới trang 380) bao gồm thơ của một số
người tù nổi tiếng như: HT. Thích Quảng Độ, TT. Thích Thiện Minh, HT.
Thích Đức Nhuận, LM Nguyễn Luân, Tú Kếu, Trần Thúc Vũ (đă mất), Phùng
Quán (Nhân Văn Giai Phẩm), Nguyễn Chí Thiện, Đ̣an Thanh Liêm, Đ̣an Viết
Họat, Hà Sĩ Phu, Trần Khuê, Phan Nhật Nam và một số bạn tù đă từng ở
chung trại với tác giả, người c̣n, người mất, người hiện đang phiêu bạt
xứ người như: Song Nhị (Trại Lư Bá Sơ, Thanh Hóa), Lê Duy (Trại Bù Gia
Mập, Phước Long), Phạm Văn Thành (A20 Xuân Phước) Hướng Dương Vũ Đ́nh
Thụy (Trại A20 Phú Yên), Vũ B́nh Nam (A20 Xuân Phước), Phan Tứ (Trại Đầm
Đùn), Quốc Ḥa (Trại T5 Đầm Đùn), Phượng Tường (Trại T5 Phú Yên), Hùng
Phong (Trại A20 Phú Yên), Nguyễn Sông Côn (Trại 3 Z.30 Xuân Lộc), Thạch
Khê (Trại A20 Phú Yên), Bảo Giang (Trại A20 Phú Yên), Sĩ Anh Linh (Trại
A20 Phú Yên), Lê Thụ (Trại A20 Phú Yên), Kiều Đ́nh Thanh (Tử h́nh tại Đà
Nẵng ngày 16-12-1985), Nguyễn Tú (Trại Tù Đại B́nh) và một số bài thơ
phúng điếu khi mẹ tác giả qua đời trong đó có Lư Thụy Ư.
Khi đưa thơ của người khác vào tác phẩm của ḿnh như
vậy, theo tôi, có thể tác giả v́ ḷng ngưỡng mộ hoặc đây là một th́nh
thức tri ân, ḥai niệm các bạn tù. Dù sao các di sản văn hóa này cũng là
những chứng tích hùng hồn nhất nói về trại tù cải tạo và về một giai
đọan bi thảm nhất của lịch sử Việt Nam.
Phạm Trần Anh, một người tù chung thân giảm án c̣n 20
năm, trong đó 7 năm bị tù biệt giam trong pḥng tối, bị đánh gẫy hai hàm
răng, hai mắt gần như mù ḷa và phải thay bằng hai thủy tinh thể giả,
sau đó c̣n tiếp tục bị quản chế, khủng bố, theo dơi và đ́ chín năm,
không cho anh định cư dù cả gia đ́nh ở Mỹ đă bảo lănh. Với quá tŕnh tù
tội và cuộc sống căng thẳng như thế mà anh vẫn c̣n đủ nhiệt huyết để
tŕnh làng thiên hồi kư này…th́ chắc chắn anh phải có một cái ǵ đó để
trang trải với đời.
Dĩ nhiên chúng ta không thể đ̣i hỏi giá trị văn
chương trong một hồi kư tù. Tuy nhiên do máu văn nghệ có sẵn trong người
Phạm Trần Anh ngay từ thời c̣n học ở Trường Quốc Gia Hành Chánh, cho nên
thiên hồi kư nhiều đọan mang mầu sắc văn chương, điểm chút khôi hài.
Theo thông lệ, tôi sẽ không làm nhiệm vụ phê b́nh tác phẩm mà chỉ giới
thiệu và sau đó là một vài cảm nghĩ riêng của ḿnh.
1) Phần hồi kư:
Tác giả đă khởi đầu phần hồi kư bằng câu chuyện
t́nh buồn. Vào năm thứ ba, anh được phép viết thư về nhà. Giống như
hằng ngàn chàng trai cải tạo khác, khi nghĩ tới người vợ trẻ đang
phải bương chải trong cuộc đổi đời tàn bạo “ Nhà tôi có chút nhan
sắc lại duyên dáng điểm xuyết thêm tâm hồn văn nghệ, nàng theo học
Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế…” (tr. 45) Lời thư tựa như máu ứa ra từ
tim như môt bản tuyệt t́nh ca“Không biết bao giờ anh trở về thôi
th́, nếu em cảm thấy cuộc đời cần bước đi bước nữa th́ cứ thanh thản
ra đi vui sống, đừng bận tâm điều ǵ cả miễn là em cố gắng nuôi năm
đứa con của chúng ta nên người th́ dù anh có chết, anh cũng vui
ḷng. Anh viết cho em những ḍng này với tầt cả t́nh yêu và sự suy
nghĩ chin chắn nên không ai, kể cả gia đ́nh mẹ anh và các cô chú có
thể nghĩ không đúng về em, em ạ!” (tr.45) Và hơn sáu tháng sau, anh
nhận được thư hồi đáp “ Anh biết không, nhận được thư anh em cảm
thấy buồn bực, ngỡ ngàng, buồn v́ chồng c̣n nghi ngờ không hiểu ḿnh
- nên đang học xuất sắc tụt xuống hạng tồi. Anh làm khổ em nhiêu đó
chưa đủ sao anh yêu !?” (tr. 46) Thế nhưng:
Đời như gió gào
Từng ngày người quên hết lời
Một ngày người đi mất rồi
Mà người chẳng biết giă từ
(Bài thơ Tuyệt T́nh Ca trong tập thơ
tù Tổ Ấm Cuối Cùng của Đào Văn B́nh xb năm 1987)
Nàng Tô Thị của Phạm Trần Anh đă ôm cầm sang
thuyền khác để lại trong anh một vết thương ḷng không thể nguôi
ngoai “ Tôi vẫn yêu nàng thơ xứ Huế của tôi.” (tr. 47) Thế rồi khi
Phạm Trần Anh ra tù, nàng vẫn thường đến thăm, ngày cưới của con gái
Quỳnh Trâm “Nàng đă lên ngâm bài thơ Đôi Bờ của Quang Dũng. Nàng quá
xúc động nên đang ngâm thơ bỗng dưng nghẹn ngào không ngâm được nữa.
Nàng bỏ lại tất cả quan khách c̣n đang ngỡ ngàng, vội vă ra đi che
dấu những ḍng nước mắt nghẹn ngào…” (Tr.46)
Trong khỏang thời gian bị cùm biệt giam, Phạm
Trần Anh suy nghĩ về cuộc đời của Cụ Nguyễn Du, Cụ Nguyễn Công Trứ
mà tứ thơ dào dạt. “Sau bảy năm bị cùm ngửa chỉ mơ có một giấc ngủ
được nằm nghiêng, Máu anh hùng nổi lên thách thức ngạo nghễ”: (*)
Chân cùm tay xích đầu sao xích?
Xích sẽ có ngày xích phải tung
Tư tưởng tinh thần làm sao xích?
A ha! A ha!
Xích sẽ có ngày xích phải tung.
(Tr. 61&62)
Sau đó Phạm Trần Anh lại đưa chúng ta về “ Những
giờ phút Sài G̣n hấp hối” (*). Anh quyết định ở lại với đất nước dù
tất cả gia đ́nh, cha mẹ đă xuống tàu. Rồi dùng lư lịch giả “gia đ́nh
cách mạng” cùng Tú Kếu thành lập Mặt Trận Người Việt Tự Do Phục Quốc
Diệt Cộng. Nhưng do kết nạp vội vă, thiếu cảnh giác đă bị công an
gài người vào theo dơi khiến chiến hữu Nguyễn Văn Thầm thấy bị lộ
phải uống dầu máy tự sát, tránh không cho cộng sản khai thác. Anh mô
tả lại cảnh công an bắt anh tại nhà như sau “Một trung đội công an
súng ống tận răng , thằng nào thằng nấy hùng hổ đầy vẻ căm thù tràn
vào nhà, đè ngửa tôi ra rồi c̣ng tay trước sự kinh ḥang của vợ và
các con tôi.” Trước t́nh thế đó “Tôi hiểu rơ mọi việc xem như đă
thua rồi nên thản nhiên nói ‘các anh muốn ǵ? ‘th́ một tên công an
nhào tới tát vào mặt tôi một cái như trời giáng rồi hằn học nói ‘Mày
phản động, dám chống lại chúng ông mà c̣n lư sự hả?” (tr. 75) Rồi
anh bị dẫn vào trại giam. “Vừa bị đẩy vào pḥng th́ nghe tiếng quát
giọng Bắc Kỳ đặc sệt “ Địt mẹ mày, giờ này mà c̣n phản động…để tao
xem gan mày to bao nhiêu mà dám chống lại chúng ông, úp mặt vào
tường, khẩn trương lên! Bất th́nh ĺnh một bang súng như trời giáng
vào lưng đau nhói tá hỏa tam tinh…chưa kịp ḥan hồn th́ những cú đấm
cú đá dồn dập, tôi lảo đảo té xấp vào tường không biết ǵ nữa..”
(tr. 75)
Sau khi tuyên án, anh được di chuyển tới Trại Tù
Đại B́nh (có lẽ thuộc tỉnh Lâm Đồng). Tại nơi đây tù kiên giam bị
nhốt vào dăy xà-lim mới xây hết sức kiên cố
mà anh em gọi đùa là “Tứ Giác Đài”. Tiêu chuẩn ăn của tù “mỗi tháng
7 kilô thực phẩm bao gồm gạo mốc mủn lẫn khoai lang, bắp, khoai ḿ
(sắn) mốc meo lên màu chạy chỉ đen có, xanh có xen lẫn vàng khè…”
Cho nên tù biệt giam sống sót nhờ cái hộp đựng phân do Cụ Phạm Xuân
Thái đặc trách vệ sinh đem vào. V́ đồ ăn quá ít cho nên gần như tiêu
hóa hết, cứ hai tuần mới đi tiêu mà anh em gọi đùa là đi “Tham quan
lăng Bác”. Một cái hộp vuông mỗi bề 25cm bên trong đựng mạt cưa để
tù “thăm lăng Bác”. Cụ Thái đă bỏ vào đó một khúc khoai ḿ dài
khỏang 10-15 cm. Khi cán bộ trực trại đi rồi th́ anh em “ bới lớp
mạt cưa lẫn phân, chia nhau mỗi người một miếng rồi ăn tươi nuốt
sống, bất kể ..” (tr. 80) Trong thời gian này anh cùng một số anh em
người Thượng chuẩn bị một chuyến vượt ngục nhưng v́ có lệnh chuyển
qua Trại Xuân Lộc cho nên thóat chết. Cuộc vượt ngục bất thành do
anh em yếu quá không đủ sức băng rừng. Một số bị bắt lại, một số bị
bắn chết thật thê thảm.
Vào khỏang Tháng 8,1980 trại tù đă xảy ra một
cuộc thảm sát do tổ chức đánh cai tù để vượt ngục bất thành, khiến
sáu anh em tù bị bắn chết, xác nằm ngổn ngang mà nhà thơ Tú Kếu đă
diễn tả qua bài thơ Vô Đề. Đây chính là bản cáo trạng về chế
độ cộng sản bạo tàn:
Chính đêm ấy, mảnh trăng liềm
đẫm máu
Tưởng chừng như thân thể bạn bè
tôi
Uốn cong lên khi bị bắn tơi
người
Miệng nguyền rủa nhưng không c̣n
tiếng nói
Môi mấp máy, đúng môi c̣n mấp
máy
Như muốn tuôn ḍng thác đổ căm
hờn
Như muốn gào to. Không thể dă
man hơn!
Không thể dă man hơn. Quân khốn
kiếp!
Có lần anh đưa cho LM Trần Thế Phiệt tài liệu
“Đường Hướng Cách Mạng Hóa, Hiện Đại Hóa Việt Nam” giấu trong cuốn
giấy vệ sinh nhưng chắng may bị an ninh trại khám thấy. May nhờ một
mực khai đó chỉ là bản chép lại chủ trương của thủ tướng Jamaica có
đăng trên báo Nhân Dân cho nên cả hai thóat án tử h́nh. Theo Phạm
Trần Anh, trong các trại tù cộng sản có lẽ tên cai tù Phi Sơn là một
tên khát máu nhất mà theo nhà phạm tội học Lombroso th́ Phi Sơn quả
là lọai người “sát nhân bẩm sinh” (*)” Không rơ tên thật y là ǵ,
chỉ biết y mang bí danh này từ lúc c̣n là trưởng ban ám sát Tỉnh Lâm
Đồng. Một tay y đă giết bao nhiêu quân nhân viên chức VNCH và cả
đồng chí của y nữa. Dáng người dị dạng cao lều khều, lúc đi lưng hơi
c̣ng, cặp mắt đỏ ngầu sâu hoắm, đôi long mày rậm và g̣ má nhô lên,
mặt lạnh như tiền, hai hàm răng lúc nói chuyện san sát như nghiến
lại nên dường như tù nhân nào cũng không dám nh́n thẳng vào mặt y.
Trong lúc uống rượu cao hứng y say sưa kể chính tay y đă giết không
biết bao nhiêu là người. Nghe nói có lần y bắt được viên đại úy ở
Chi Khu Đơn Dương, Lâm Đồng. Sau
khi đánh đập, tra tấn không khai thác được ǵ, y
trói hai tay nạn nhân vào một gốc cây rồi khóet hai mắt cho máu chảy
ra để kiến bu lại. Đến khi quân ta t́m được th́ xác đă thối rữa, ḍi
bọ ḅ lổn ngổn, ruồi kiến bu quanh…” (tr.89). Hành vi tàn ác của Phi
Sơn có thể sánh với Nguyễn Ngọc Cơ tự Sáu Búa – Viện Trưởng Viện
Kiểm Sát Nhân Dân Bặc Liêu trong cuốn hồi kư 26 Năm Lưu Đày của TT.
Thích Thiện Minh.
Trong một lần thăm nuôi bất ngờ do Tú Kếu - được
thả trước - có ḷng tới thăm anh em, tác giả may mắn gặp một số
khuôn mặt như Dơan Quốc Sĩ, Hoàng Hải Thủy, Trí Siêu Lê Mạnh Thát và
Tiến Sĩ Kinh Tế Mă Thành Công. Riêng đối với nhà văn Dơan Quốc Sĩ
tác giả tỏ ḷng kính trọng đặc biệt “Tôi thường gần gũi để học thêm,
lănh hội thêm những cao kiến cùng đức tính nhiệt t́nh và chân thật
của bậc thức giả này. (tr.97)
Rồi trong một buổi học tập dàn dựng để bầu “Hội
Đồng Tự Quản” hầu qua mặt các phái đ̣an quốc tế tới thăm trại, Phạm
Trần Anh được anh em đề cử ra tranh chức đội trưởng để đối đầu với
ứng viên c̣ mồi do cai tù đề cử. Sau khi đảm nhiệm “chức đội trưởng”
trong biên bản bàn giao anh yêu cầu phải chứng minh rơ số lúa tồn
kho th́ được đội trưởng cũ cho biết khỏang hai tấn lúa do anh em tù
sản xuất đă được dùng để biếu cai tù, quản giáo, trực trại và giám
thị…trong khi đó anh em tù nào đói quá lấy trộm một hai chén thóc là
bị cùm kỷ luật cả tuần lễ. Nhận được biên bản này, bọn cai tù và
giám thị ngậm đắng nuốt cay không thể nói ǵ nhưng t́m cách trả thù.
Nhân dịp giỗ bố, Phạm Trần Anh có mời mấy thầy bên Ḍng Đồng Công,
TT. Trí Siêu (Lê Mạnh Thát), TT. Thích Thiện Minh và nhà văn Dơan
Quốc Sĩ. Thế là trực trại ùa vào lập biên bản, sáng sau có lệnh cùm
kỷ luật Phạm Trần Anh vô thời hạn. Tuy nhiên chỉ mấy tuần sau thôi
cai tù phải thả anh ra v́ cả trại xôn xao khi TT. Thích Thiện Minh
tuyên bố tuyệt thực vô thời hạn nếu không thả Phạm Trần Anh ra.
Cũng trong khoảng thời gian này
(tác giả không ghi rơ năm), tù cải tạo gốc quân-cán-chính VNCH từ
ng̣ai Bắc chuyển về rất đông cho nên tác giả có dịp gặp gỡ một số
khuôn mặt như Đại Tá Nguyễn Văn Lương (CTCT), Đại Tá Vũ Thế Quang,
Đại Tá Huy, Đại Tá Không Quân Phùng Ngọc Ấn và Trung Tá Nhảy Dù Bùi
Quyền v.v.. Anh em gặp nhau mừng mừng tủi tủi và đă tổ chức hát quốc
ca, Tù Ca với bản nhạc nổi tiếng Đôi Giày Dũng Sĩ. Sau một vụ xô
xát giữa tù nhân và vũ trang cảnh vệ, tác giả tâm t́nh là trong hàng
ngũ công an cai tù vẫn có người ngấm ngầm chống cộng và âm thầm giúp
đỡ anh em. Có một đại úy công an nói rằng “Nếu phục quốc đến đây th́
tôi là người đầu tiên bắn hết chúng nó. “ (*) Chúng nó đây là công
an VC.
Từ trang 105 tới trang 144 tác
giả nói về Thung Lũng Tử Thần tức Trại Tù Xuân Phước nằm dưới một
thung lũng có tám ngọn núi bao quanh thuộc rừng núi Tỉnh Phú Yên
giáp biên giới Lào-Việt mà người tù Vũ Đ́nh Thụy đă mô tả như sau:
Ai đă đến để một đời nhớ măi
Ai đă qua nơi địa ngục trần gian
Ai đă sống những tháng ngày khốn
khó
Thần chết rập ŕnh, địa ngục đâu
đây!
(tr.106)
Tại nơi đây đă có ít ra năm linh mục đă chết
trong biệt giam và cả ngàn ngôi mộ của anh em tù nhân. Nơi mà:
Trông thấy người khác chết
Trong ḷng rất xót xa
Nủa thương xót kẻ chết
Nửa nghĩ tới thân ta
(Vũ Đ́nh Thụy tr.107)
Trong thời gian này tác giả chung sống với TT.
Thích Thiện Minh gọi thân mật là Thày Ba. Cả hai sau đó lần lượt vào
nhà cùm kỷ luật. Để trấn áp tù nhân, nhà cùm chưa đủ, cai tù c̣n
dùng roi điện bắt tù nhân nằm xuống đánh ngay trước cổng trại. Có
điều trớ trêu là cùng linh mục nhưng có linh mục “con mồ côi “ không
ai thăm nuôi sống đói khổ, lao động cực nhọc. Trong khi đó những
linh mục khác có xóm đạo dư dả thăm nuôi ăn không hết nên thức ăn
ngon, vật dụng đẹp, thuốc bổ đều mời cán bộ sơi dùm cả…và hầu như
không chia xẻ với các linh mục khác chút ǵ gọi là bác ái cả!”
(tr.114 &115). Theo người tù Nguyễn Quang th́ nhiều người mong lập
thành tích đái công chuộc tội trong đó có Thày Phạm Hồng Quang, LM
Đinh Xuân Thụy “ông này không những cầm sổ kẹp nách, vừa ghi chép,
vừa chạy giữa trưa nắng thật buồn cười, tay kia cầm gậy thọt thọt
khắp nơi trong trại và cả chiều tối xem có tù nhân nào đào vách
khóet tường không..” (tr.115). Thế nhưng theo Phạm Trần Anh, “ bên
cạnh những con sâu làm rầu nồi canh, có một số linh mục đáng kính hy
sinh tại Thung Lũng Tử Thần” như: LM Nguyễn Huy Chương bị kiên giam
cho đến chết, LM Nguyễn Luân bị kiên giam, trước khi chết vẫn c̣n
dặn ḍ mọi người hăy v́ con người đấu tranh cho quyền làm người, LM
Nguyễn Văn Vàng kiệt sức chết trong xà-lim, LM Phong kiệt sức chết
khi lao động, LM Nguyễn Quang Minh (Vụ Án Vinh Sơn) bị đánh dập lá
lách, trào máu họng chết.
Điều làm tôi ngạc nhiên nhất trong một trại tù
ḱm kẹp khốc liệt như thế mà lại có tài liệu học tập chống cộng gọi
là “Báo Chui” do một số tay gan ĺ như Vũ Ánh, Phạm Chí Thành,
Nguyễn Xuân Nghĩa, Thiếu Tá TQLC Vơ Đằng Phương chủ trương rồi bị
bắt giải về Phan Đăng Lưu để điều tra nhưng không t́m ra manh mối
cho nên đem trở lại trại, nhốt vào xà-lim cho đến khi Ân Xá Quốc Tế
can thiệp. Rồi lại có các tù nhân trẻ như Trần Minh Tuấn quê ở B́nh
Định dám rải truyền đơn ngay trong trại tù và Phạm Văn Thành, Nguyễn
Văn Trung. Chính mấy anh em này đă làm Cuộc Nổi Dậy tại Xuân Phước
ngày 28-10-1994.
Thung Lũng Tử Thần Xuân Phước cũng c̣n là “nơi
dừng chân” (*) của các người tù như LS Trần Danh San, LS Nguyễn
Chuyên, LS Lư Văn Hiệp và anh Nguyễn Chí Thịêp cựu Phó Tỉnh Trưởng
Quảng Nam. Ng̣ai ra lại có cựu SV/QGHC Cao Văn B́nh ra ṭa thách
thức quan ṭa VC tuyên án tử h́nh. Thế nhưng tên chánh án thâm độc
này tức tối nói rằng ” Mày muốn làm anh hùng hả? Tao chỉ cho mày một
bản án chung thân, nghĩa là tù rục xương để mày chết lần chết ṃn
trong bốn bức tường đá, chứ dại ǵ cho mày chết ngay!” (tr.123). Anh
Cao Văn B́nh sau ba lần tự sát mới thành công để được thóat kiếp đọa
đày. Lần cuối cùng anh nhảy vào chảo nước sôi kết liễu đời ḿnh.
Vào năm 1991 tác giả có một chuyện vui khi bà cụ
đến thăm trước khi đi Mỹ, có cho tác giả 800,000 (tiền VC). Anh đă
dùng tiền này để nhờ giám thị trại mua một máy truyền h́nh để anh em
coi cho đỡ buồn, nuôi hai con heo, khỏang 200 con gà và mấy chục
kílô cá rô, cá trắm cỏ để “bồi dưỡng”cho anh em. Bọn cai tù mừng húm
và hứa sẽ đề nghị giảm án xuống cho anh c̣n 20 năm. Bà cụ thấy con
ḿnh tù tội đă 16 năm cho nên nước mắt dưng dưng năn nỉ con viết đơn
xin giảm án. Anh đă khóc v́ t́nh thương của mẹ nhưng cảm khái nói
“Mẹ đừng nói nữa. Con không bao giờ làm đâu. Con cam tội bất hiếu
với mẹ c̣n hơn là nghe lời mẹ kư vào đơn xin giảm án..!!!” (tr.140)
Phạm Trần Anh khác với Từ Thứ năm xưa v́ mẹ mà về hàng Tào Tháo.
Ngày nay Phạm Trần Anh thà chịu tội bất hiếu với mẹ chứ không bao
giờ đầu hàng cộng sản và phản bội anh em. Đó chính là tinh thần Bất
Khuất của thiên hồi kư này.
Trong những trang cuối cùng của phần hồi kư khi
đă định cư tại Thành Phố San Diego, California, anh tâm t́nh lư do
tại sao anh cho ra đời cuốn sách: “Trong Bữa Cơm Cay Đắng của
Tổng Hội Cựu Sinh Viên QGHC tổ chức để ôn lại kỷ niệm và đọc thơ tù
cho anh em, tôi không đến được cho nên viết những tản mạn tâm t́nh
Đọan Trường Bất Khuất như để tạ lỗi cùng anh em.” (tr.142)
2) Phần thơ:
Như đă giới thiệu ở trên, trong phần thơ, ng̣ai
khỏang 50 bài thơ của chính anh, Phạm Trần Anh đă đưa vào một số thơ
tù không thể liệt kê hết ở đây mà chỉ lựớt qua một số như : Bài
thơ Ác Mộng và Nói Chuyện Với Tử Thần của HT. Thích Quảng
Độ, Ngày Quốc Nạn của TT. Thích Thiện Minh, Vô Đề dài
139 câu của Tú Kếu (Trần Đức Uyển) nay xin trích ra vài câu:
Chúng nó tới như một bày thú dữ
Mang tai ương tới từng nụ hoa
non
Đá chảy mồ hôi, gạch đá cũng đau
buồn
Bao nhiêu máu đă chan ḥa mặt
đất
Bao nhiêu ngày từng đó biến
thành đêm
Bao nhiêu người, khi cờ đỏ treo
lên
Trong ḷng sáng, chợt bốn mùa
ngục tối
(Vô Đề, tr. 202)
Và đây là khí phách của người tù Tú Kếu:
Chín năm lăn lóc ở trong tù
Chưa một lời buồn tôi thốt ra
(Vô Đề tr. 206)
Đặc
biệt anh đưa vào chín bài thơ tù của Trần Thúc Vũ - tên thật Bùi Kim
Đính, Phi Đ̣an Không Thám 219, sau 17 năm tù, định cư vào Hoa Kỳ mất
năm 2005 - mà bài thơ tôi thích nhất có tên Huyền Hoặc. Lời thơ có
phong độ Đường Thi, nhưng trầm mặc an tĩnh như tâm hồn của một thiền
sư. Nay xin giới thiệu ở đây:
Nhánh sông đời hệ lụy
Ta trôi theo từng ngày
Suối tuôn ḍng chẳng nghỉ
Nước hồn nhiên vơi đầy
Bạc đầu cơn gió cuốn
Bao nhiêu rừng cây già
Nhấp nhô triền sóng cuộn
Nở bừng muôn đóa hoa…
Xế bao chiều nắng đục
Tóc vương hồn cỏ cây
Phất phơ sương khói nhạt
Mắt phai miền gió lay
Thân ta thêm từng ngày
Biển thêm cuồn cuộn sóng
Đất trời thêm từng giây
Vơ vàng cơn ác mộng
Mai này đời im lặng
Đáy hồ thêm huyền hoặc
Lắng nghe lời vào đêm
Có c̣n không tiếng vạc ?
Mai này chân cỏ vàng
Khói sương chiều quạnh vắng
Ta từng ḍng quẩn quanh
Thẫn thờ cơn nuớc lặng
Nước vẫn ḍng khổ đau
Trái tim c̣n nghiệp chướng
Em nào hay biết đâu
Cơi ḷng ta phiền muộn
Núi rừng ta trở về
Mưa nguồn thân lá mục
Xin v́ nhau lắng nghe
Th́ thầm cơn nước rút
Chỉ c̣n riêng đáy khe
Mảnh trăng khuya huyền hoặc.
(tr.167 &168)
Sau hết điều làm tôi vô cùng ngạc nhiên nữa là Phạm Trần Anh đă
đưa vào một bài thơ của Hà Sĩ Phu một nhà tranh đấu đang là biểu
tượng của giới sĩ phu Bắc Hà bây giờ. Đó là bài Lời Phật. Lời thơ
không kêu gọi lật đổ, không hận thù mà thác lời dạy con để dùng trí
tuệ (đuốc tuệ) tu thân dưỡng tánh. Khi ḿnh tu thân dưỡng tánh rồi
th́ ḿnh sẽ là người quân tử (Tu, Tề, Trị, B́nh). Khi đă nh́n thấu
lẽ Cùng- Thông của tạo hóa hoặc chỉ cần tu một tâm Từ Bi thôi, th́
sẽ không c̣n làm khổ đời nữa. Bài thơ lục bát đơn sơ như sau:
Cho con trải một lần tù
Để con tṛn một kiếp tu với đời
Kiếp người đau thế con ơi
Mỗi ḍng con viết lệ rơi mấy
lần?
Viết đi cho sạch nợ trần
Lâng lâng Đuốc Tuệ soi chân con
về
(Trại Tù B14, Hà Nội Tháng 7,1996)
Nhân bài thơ của Hà Sĩ Phu tôi xin phép bàn rộng
thêm. Giả sử sau này khi quư Ô. Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết,
Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Lê Hồng Anh…vào tù khi chế độ
cộng sản xụp đổ. Các giám thị cải huấn có thể biếu quư ông mỗi người
một cuốn Kinh Thánh hoặc vài cuốn Kinh Phật như Bát Nhă Ba La Mật Đa
Tâm Kinh, Kinh Kim Cang v.v..tôi bảo đảm quư ông này, sau khi được
thả ra, sẽ hiền khô, sẽ biết thương ngươi, v́ quư ông đă thấy xác
thân này chỉ tồn tại như một ánh chớp ngang trời, cuộc đời này,
quyền thế, thịnh suy tựa như giọt sương mai trên đầu ngọn cỏ:
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
(Kệ tụng của Thiền Sư Vạn Hạnh)
Lời kết:
Trong phần giới thiệu cuốn sách, TT. Thích
Thiện Minh viết “Hội đang sưu tầm danh sách hằng ngàn tù nhân chính
trị bị nhà cầm quyền CSVN xử tử h́nh và xuất bản. Trong ư hướng đó
chúng tôi xin mời quí đồng bào đọc những vần thơ của anh em tù nhân
chính trị viết từ đáy địa ngục trần gian…” (tr.8)
C̣n nhà thơ Phổ Đức (hiện đang
c̣n ở trong nước) đă giới thiệu tập hồi kư như sau: ”Đọc thơ Phạm
Trần Anh, những ai có một khối t́nh lớn của Tản Đà, một chút u ḥai
sẽ tâm đắc và cảm nhận như chính nỗi ḷng của ḿnh.” (tr.31)
Riêng tôi, tôi xin dùng bài thơ
sau đây của Phạm Trần Anh để kết thúc bài giới thiệu. Đó là bài thơ
thất ngôn tứ tuyệt nhan đề Sơn Hà Thệ. Đó cũng là bài thơ để kính
tặng sư phụ của anh là Ḥa Thượng Thích Đức Nhuận đă viên tịch.
Nhất nhật tại tù nhất nhật âu
Kỷ niên vong quốc kỷ niên sầu
Nam nhi tâm huyết sơn hà thệ
Ái quốc ưu dân chí bạch đầu
Dịch nôm: Thề cùng sông núi
Mỗi ngày tù tội một lo âu
Bao năm mất nước bấy năm sầu
Một ḷng thệ nguyện cùng sông
núi
Yêu nước thương dân tới bạc đầu
Tâm t́nh của Phạm Trần Anh ngày nay cũng là tâm
t́nh của bao nhiêu tù nhân chính trị, bao nhiêu nhà tranh đấu đang
trực diện với bạo quyền từng giờ từng phút. Động lực tranh đấu
ngày hôm nay chính là ḷng ái quốc và ḷng thương dân. Xin mấy
ông cộng sản đừng vu vạ cho họ là phản động, là bị ngọai bang xúi
giục. Bây giờ chẳng có ngọai bang nào thèm ḍm ngó tới Việt Nam cả,
ngọai trừ Trung Cộng.
Đào
Văn B́nh
Califrornia ngày 4-10-07
Cước chú: Dấu (*) là lời trích dẫn từ tác
phẩm
Tác phẩm sẽ được ra mắt lần đầu tiên tại San
Jose, California vào ngày 28-10-2007
Quư vị nào ở Hoa Kỳ muốn
có sách xin gửi 20 đồng (kể cả cước phỉ gửi) về địa chỉ:
Anh Phạm
10095 Larson
Garden Grove, CA 92384
Tel: (714) 723-2798
Không Quên Bạn Tù
Không Quên Đồng Bào Đau Khổ
Trở
về đầu trang
|
|