Home Up Cương Lĩnh Điều Lệ Lịch Sử Tổng Hội Bức Tường Chính ViệtDiễn Văn TT Hoa Kỳ

 

Biểu t́nh chống văn công Phim Sự Thật về HCM Biểu t́nh tại Úc Chương tŕnh HR Lời kêu gọi Xin anh lời hứa Diễn Văn TT Hoa Kỳ Sấm Trạng Tŕnh Bức Tường Đá Đen Bức Tường Đá Đen1 Đọan Trường Bất Khuất 911

Trích và phân tách Diễn Văn của TT George W. Bush

Tại Hội Nghị Cựu Chiến Binh Viễn Dương,

Kansas City, Missouri, ngày 22-9-2007.

 

Trúc-Đông chuyển ngữ

Cao-Gia

Bài Diễn Văn dài trên tám (08) trang, tôi trích đoạn thành bốn phần chính cô đọng (từ A đến D) để chúng ta có cái nh́n từ qúa khứ và phán đoán tương lai, về sách lược "Toàn Cầu Hóa" của Mỹ. Từ đó, chúng tat khéo léo vận dụng đưa vào đường lối đấu tranh hữu hiệu cho một nước Việt Nam Tự Do & Dân Chủ xóa bạo quyền CS Hà Nội, mà không dùng đến bạo lực.

Mở đần DIỄN VĂN:  Xin cám ơn tất cả quí vị, xin mời quí vị an tọa. Tôi hân hạnh được gặp lại qúi vị lần nữa. Tôi thấy là quí vị không có trở ngại ǵ trong việc t́m diễn giả. Tôi rất hân hạnh và chân thành cám ơn được quí vị chiếu cố mời tôi. Và tôi hiểu ngay tại sao nhiều người thích đến đây. Thật vô cùng hănh diện được đứng chung với những người nam, nữ cựu chiến binh viễn dương, (VFW: Veterrans of Foreign Wars) là một đoàn thể ưu tú nhất, và các thành viên là những người xuất sắc nhất của Hoa Kỳ. Quí vị là những người đă chiến đấu bảo vệ tiền phương của Hoa Kỳ. Qúi vị đă tham chiến những trận đánh từ Normandy, Iwo Ima, Pursian, Khe sanh, Kuwait, Somalia, Kosovo, Afghanistan, và Iraq. Quí vị đă chiến đấu để bảo vệ an ninh cho nhân dân Hoa Kỳ, đồng thời quí vị đem lại niềm hy vọng cho hàng triệu người trên thế giới

Tôi đứng trước quí vị là một Tổng Thống của thời chiến. Tôi rất e ngại khi phải nói lên điều nầy, nhưng kẻ thù đă tấn công chúng ta ngày 11 tháng 9-2001 và họ đă công khai tuyên chiến với Hoa Kỳ. Buộc chúng ta phải tham chiến để giải quyết chiến tranh.

Giờ đây, tôi thấy có những người nghi ngờ là thế giới đang lôi cuốn vào nhu cầu đ̣i hỏi tự do, và e ngại là Trung Đông chưa sẵn sàng. Có người tin là sự hiện diện của Hoa Kỳ sẽ tạo ra sự bất ổn, Hoa Kỳ phải rời khỏi Iraq là nơi đă giết chết các chiến sĩ của chúng ta, hay nhắm vào việc sát hại những người không có thù hằn ǵ với chúng ta. Hôm nay tôi mỗ xẻ những lập luận nầy. Tôi giải thích lư do tại sao phải giúp những nền dân chủ non trẻ ở Trung Đông được cơ hội vực dậy để chống lại những phần tử Hồi Giáo cực đoan đó là con đường thực tiễn nhất để thế giới cũng như người dân Hoa Kỳ được an b́nh hơn.

Tôi xin mở đầu phần diễn thuyết với câu chuyện khởi đầu từ một buổi sáng đẹp trời, khi hàng ngàn người dân Hoa Kỳ bị giết chết trong trận tập kích, đất nước của chúng ta bị đẩy vào cuộc xung đột khiến cho chúng ta phải có mặt tại mọi ngơ ngách của thế giới.

Kẻ địch tấn công chúng ta v́ họ không ưa thích sự tự do, trong ḷng họ chứa đầy tị hiềm và thiếu nhận định khi họ quả quyết là Hoa Kỳ và các quốc gia phương Tây đă gây tổn hại cho nhân dân của họ. Họ gây chiến để chiếm lấy chủ quyền trong toàn vùng. Và theo đà thời gian, họ xoay qua chiến lược dùng đội cảm tử tấn công mục tiêu để tàn sát tối đa khiến cho nhân dân HK phải ngán sự tàn bạo và tự thua cuộc.

Câu chuyện nghe rất là quen thuộc, nhưng chỉ khác một điều là kẻ thù được mô tả ở đây không phải là quân khủng bố Al Qaeda, hay trận đột kích ngày 11 tháng 9. Và cái đế chế không phát xuất từ giấc mơ của tên trưởng giáo Đạo Hồi cực đoan Osama Bin Laden. Nhưng, những ǵ tôi vừa mô tả là guồng máy chiến tranh của quân đội Hoàng Gia Nhật vào thập niên 1940, cuộc tập kích bất ngờ ở Trân Châu Cảng, với chủ trương bành trướng bá quyền trên toàn cơi Đông Nam Á

Cuối cùng, Hoa Kỳ đă thắng trận thế chiến II, và chúng ta tiếp tục chiến đấu thêm trong hai trận chiến ở trận địa Á Châu. Nhiều người hiện diện trong đại sảnh đường ngày hôm nay là cựu chiến binh của các cuộc chiến đó. Thế nhưng, điều mà những người khách quan nhất trong quí vị cũng không mường được là người Nhật sẽ biến thái để trở thành một đồng minh chặt chẽ nhất, và tiến bộ nhất, hay một nước Đại Hàn phục hồi lại từ sau khi bị xâm lăng để vực dậy thành một trong các quốc gia có nền kinh tế giàu mạnh, và một Á Châu vực thoát khỏi vũng lầy của nghèo đói, vô vọng khi biết hội nhập vào kinh tế thị trường và tự do.

Những bài học cho sự vực dậy của Á Châu là sự mơ ước sâu thẫm của trái tim là tự do, v́ lẽ đó không điều ǵ ngăn cản được.

Ngày hôm nay, có được một Á Châu năng động và nhiều hy vọng tiềm tàng, một vùng đất đem lại cho chúng ta vô số lợi ích, những thành quả ấy không thể thành h́nh nếu không có sự hiện diện hay có sự bảo tồn bởi HK. Những thành qủa đó đă không thành công nếu không có sự góp mặt của các chiến binh trong đại sảnh nầy. Và tôi chân thành cám ơn sự phục vụ của quí chiến sĩ.

Có nhiều khác biệt trong các cuộc chiến chúng ta đă tham gia tại miền Viễn Đông và trận chiến chống khủng bố hiện nay. Nhưng có điều quan trọng cốt lơi là là sự đấu tranh ư thức hệ. Từ đoàn quân của Nhật đến quân CS Bắc Hàn và Việt Nam bị thúc đẩy bởi chủ thuyết tàn bạo để khống chế con người. Kẻ địch giết người HK v́ chúng ta cản trở bước tiến của họ trên con đường áp đảo người khác phải đi chủ thuyết của họ. Ngày nay, cho dù địa danh và tên tuổi có thay đổi, nhưng bối cảnh của nhân vật chủ động của cuộc tranh đấu này không khác nhau. Giống như kẻ địch trong lịch sử đă qua, bọn khủng bố gây chiến tranh tại Iraq, Afghanistan và những nơi khác họ âm mưu phát động mưu đồ chính trị của họ. Kế sách của họ là dùng toàn lực để đập tan tự do, an hoà, và sự tôn trọng mọi chính kiến khác biệt.

Vào mốc thời gian của Thế Chiến II, vùng Viễn Đông chỉ có hai quốc gia dân chủ là Úc và New Zealand. Ngày nay hầu như nhiều nước Á Châu được tự do, và chính thể dân chủ biểu hiện nhiều sắc thái của vùng. Vài quốc gia có quân chủ lập hiến, vài quốc gia có quốc hội, vài quốc gia có Tổng Thống. Nơi th́ theo đạo Thiên Chúa, đạo Hồi, đạo Hindu, đạo Phật. Dù có nhiều khác biệt, nhưng các quốc gia tự do của vùng đất Á Châu đồng chia cùng một ư niệm chung: Quyền lực của chính quyền được sự đồng thuận của chính phủ, và họ cùng mong mỏi sống hài ḥa với nước láng giềng.

A.- Ngay sau khi Nhật đầu hàng, nhiều người cho rằng việc giúp đỡ Nhật tiến tới dân chủ là một hành động ngô nghê. Cũng như những lập luận cũ rích kia, nhiều b́nh luận gia ngày nay vẫn c̣n tranh căi, nhiều người c̣n cho rằng: Nhật không phù hợp cho nền tảng tự do. Có người nói rằng: Văn hóa phong tục Nhật tự bản chất không hội nhập vào nền dân chủ, ông Joseph Grew là cựu đại sứ Mỹ tại Nhật, khi ông c̣n là đại sứ Bộ Ngoại Giao cho Tổng Thống Harry Truman, đă nói thẳng thừng với ông là (xin trích nguyên văn) "thể chế dân chủ không bao giờ thành công tại Nhật". ("democracy in Japan would never work.")  Ông không phải là người duy nhất có quan điểm đó. Mà rất nhiều người HK cũng tin như vậy, và nhiều người Nhật cũng tin như vậy. Nhiều người Nhật quả quyết là: Dân chủ không thể thực thi.

Có quan điểm chỉ trích là HK đă nhồi nhét chủ thuyết của ḿnh lên người Nhật. Thí dụ như phó thủ tướng Nhật quả quyết rằng khi cho phụ nữ đi bầu là "làm lụn bại tiến tŕnh chính trị của Nhật".

Thú vị nữa là, Tướng Mac Arthur ghi lại trong hồi kư: "có nhiều lời chỉ trích cho việc tôi yểm trợ cho sự giải phóng phụ nữ. Nhiều người khác luôn cả người HK phát biểu là người phụ nữ Nhật đă bị lệ thuộc vào truyền thống phải khúm núm với chồng th́ khó mà vương lên để tự có lập trường chính trị riêng". Đó những điều mà Tướng Mac Arthur nh́n thấy. Sau cùng người Nhật cho người phụ nữ được quyền bầu cử; 39 phụ nữ thắng ghế nghị viên trong lần bầu cử tự do đầu tiên của nước Nhật. Hiện nay, Bộ Trưởng Quốc Pḥng Nhật là người phụ nữ, và trong tháng rồi phụ nữ thắng cử vào thượng viện Nhật đạt mức kỷ lục. Nhưng cũng có những chỉ trích gay gắt về dân chủ.

Không biết có ai tin hay không! khi có những tranh luận là dân chủ không thể thành công ở Nhật, v́ quốc giáo là Đạo Shinto, có nhiều cực đoan ăn sâu vào gốc rễ của Hoàng Gia. Nghị sĩ Richard Russel chối bỏ tín ngưỡng của Nhật và đề nghị là nếu chúng ta không đưa Hoàng Gia ra ṭa án th́: "mọi nỗ lực và công sức của chúng ta để đem lại dân chủ đều tan vỡ". Một nhân vật bộ ngoại giao tại Tokyo nói thẳng thừng là: "hệ thống Hoàng Gia phải biến mất để Nhật mới có dân chủ thật sự".

Thay v́ băi bỏ triều đ́nh và ngai vàng, Hoa Kỳ và Nhật cùng nhau t́m một chỗ đứng cho Hoàng Gia trong guồng máy chính trị dân chủ.

Chúng ta thừa hiểu rằng, dù là lăo luyện, chuyên nghiệp đôi khi cũng sai lầm. Một sử gia nói: "thật là một diễn biến kỳ thú". Ông nói về những nhà b́nh luận dèm pha những nỗ lực giúp đỡ cho Nhật hưởng được tựï do là: "Nếu những kẻ hủ lậu được toàn quyền hành động th́ mọi ngọn lửa đấu tranh dân chủ đă tắt ngấm từ khởi ban sơ v́ sự chế nhạo".("Had these erstwhile experts had their way, the very notion of inducing a democratic revolution would have died of ridicule at an early stage.")

Do đó, tôi nghĩ điều quan trọng là hăy nh́n vào những ǵ đă xảy ra. Một nước Nhật dân chủ đă đem lại an b́nh, thịnh vượng cho nhân dân. Với chính sách kinh tế đối ngoại và thị trường đầu tư là ngọn lửa khơi bùng giúp nền kinh tế của các nước khác trong vùng. Sự liên minh song phương của chúng ta là mấu chốt cho tự do và ổn định toàn vùng Thái B́nh Dương. Xin qúi vị lưu tâm vào điều sau cùng là: "Nhật đă thoát thai từ một kẻ thù địch của HK trong cuộc chiến ư thức hệ của thế kỷ thứ 20 để trở thành một người đồng minh bền chặt nhất trong cuộc chiến ư thức hệ của thế kỷ 21.

B)- Vào năm 1950, sau khi Bắc Hàn vượt vĩ tuyến 38, Tổng Thống Harry Truman gửi quân đến để bảo vệ Nam Hàn và ông đă bị tấn công từ mọi phía. Phía tả th́ có ông I.F.Stone viết sách cho là Nam Hàn là người thật sự gây hấn, và chúng ta mắc vướn vào do một việc làm sai lạc. Phía hữu có đảng Cộng Ḥa chao đảo. Khởi đầu th́ chủ tịch Đảng Cộng Ḥa tại thượng viện HK yểm trợ chấp hành việc làm của TT Harry Truman, và nói là: "Tôi hoan hô cho chính sách có hướng đi rơ ràng, và tôi phê chuẩn đồng thuận nghị quyết th́ sẽ giữ ǵn cho nó được toàn vẹn". Rồi sau đó ông lại nói: "đó là một sai lầm từ khởi đầu khi (đem quân) vào Đại Hàn v́ tự nó là vùng đất có chiến tranh".

Trong suốt cuộc chiến, đảng Cộng Ḥa không có một định hướng rơ rệt. Họ không có quyết định dứt khoát khi nào phải rút quân khỏi chiến trường ĐH hay có nên mở rộng chiến tranh vào lănh thổ Trung Cộng không. Người th́ phê phán là chiến sĩ không được chính quyền yểm trợ. Một nghị sĩ Cộng Ḥa nói mọi nỗ lực chỉ là: "tung hỏa mù và ồn ào". Ông từ chối việc cùng nhau đoàn kết trong thời điểm chiến tranh, với lư do là "chúng ta không chấp nhận việc dùng cái vỏ bọc đoàn kết quốc gia cho những việc làm sai lầm ghê tởm".

Nhiều người trong giới truyền thông th́ đồng ư. Một b́nh luận gia của báo Washington Post nói: "sự thật là các thành qủa của cuộc chiến ĐH bị đâm thủng bởi những sai lầm từ lớn đến nhỏ."("The fact is that the conduct of the Korean war has been shot through with errors great and small.") Một đồng nghiệp khác viết: "Đại Hàn như con thú bị thương đang đổ máu liên tục và hết thuốc chữa."  ("Korea is an open wound. It's bleeding and there's no cure for it in sight.") Ông ấy nói rằng nhân dân HK không hiểu là: "tại sao HK phải lănh chịu phần chiến đấu 95% cho cuộc chiến của ĐH." ("why Americans are doing about 95 percent of the fighting in Korea.")

Có lời cho rằng lư do bị nhiều chỉ trích ruưt nữa chúng ta thất hứa với ĐH. Nhưng thật ra cuộc chiến Đại Hàn có nhiều gian nan, và HK chưa từng thất hứa.

Hôm nay trong đại sảnh nầy, chúng ta nh́n thấy sự hiện diện của những người đă hy sinh nỗi bật hẵn lên, khác với đời sống trong vùng bán đảo Đại Hàn. Nếu HK không ngăn chận cuộc chiến và nếu chúng ta không quyết chí theo sát yểm trợ Nam Hàn sau khi chiến tranh chấm dứt, th́ hàng triệu người Nam Hàn phải sống dưới một chính quyền CSBH dă man kèm kẹp. Nga Xô và Trung Cộng rút kinh nghiệm xâm lăng th́ vẫn được lợi. Thế giới đối diện với một t́nh huống khẩn trương. Th́ thế giới sẽ mất an b́nh hơn.

Thế nhưng, Nam Hàn trở nên hùng mạnh và là đồng minh dân chủ của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Quân đội Nam Hàn và lực lượng HK cùng sát vai nhau chiến đấu tại chiến trường Iraq và Afghanistan. Và HK tin tưởng là những người được sống trong tự do của Nam Hàn sẽ là đồng minh lâu dài trong cuộc chiến ư thức hệ của khởi đầu thiên niên kỷ thứ 21.

C)- Sau cùng là Việt Nam. Đây là nan đề phức tạp và nhiều đau khổ cho một số đông người HK. Thảm trạng VN qủa là to lớn không gói ghém  trong một bài diễn văn. Cho nên, tôi xin tự gợi lại trong một phạm vi chính đáng và tối cần thiết cho ngày hôm nay. Những lập luận xưa ra sao, th́ giờ cũng vậy. Có người vẫn tranh luận rằng cái sai lầm nhất là v́ Hoa Kỳ đến đó, và nếu chúng ta rút quân th́  mọi chém giết sẽ ngưng ngay.

Điều tranh căi là sự hiện diện của HK tại Đông Nam Á sẽ nguy hiểm và nhiều hệ lụy. Năm 1955, một thời gian dài trước khi HK nhảy vào cuộc chiến, ông Graham Greene viết tác phẩm "The Quiet America" (nước Mỹ yên tĩnh). Bối cảnh ở Saigon, và nhân vật chính là một nhân viên trẻ làm việc cho chính phủ tên là Alden Pyle. Anh là biểu tượng của ḷng yêu nước và đường lối HK, và ngô nghê một cách đáng ngại. Một nhân vật khác trong câu chuyện diễn tả Alden như sau: "tôi chưa thấy người nào có lư do chính đáng nhất cho những việc rối rắm do tự anh ta gây ra."

Sau khi HK tham chiến tại VN, quan điểm của Graham Greene được dịp ầm ỉ. Hơn thế nữa, nhiều lời b́nh luận là: "nếu chúng ta rút lui th́ không gây tai hại nào cho người dân Việt Nam."

Năm 1972, một nghị sĩ phản chiến tŕnh bày như sau: "có trời đất nào có thay đổi khác lạ cho các bộ tộc hoang dă hay là những người nông dân ít học của VN, Lào, Cam Bốt, dù họ có một lănh tụ quân phiệt, có một hoàng tử qúy phái, có một thừa sai xă hội chủ nghĩa của thủ phủ xa xăm nào mà họ chưa bao giờ thấy hay chưa bao giờ nghe?"

 Một b́nh luận gia của báo New York Times cũng nhiễm trong gân tủy những lập luận như vậy nên viết vào năm 1975, sau khi VN và Cam Bốt bị rơi vào tay CS: "Thật khó mà tưởng tượng, đời sống của họ sẽ tốt hơn khi HK rút đi". Cũng một hàng tít lớn trên báo nói về Phnom Penh, tóm gọn trong lời bàn căi sau: "Một Đông Nam Á không có HK hầu hết đời sống sẽ khá hơn." ("Indochina without Americans: For Most a Better Life.").

Thế giới trả một bài học đắt gía cho cái nh́n sai lầm nầy. Tại Cam Bốt quân khờ Me Đỏ bắt đầu cai trị nước với chính sách giết người, gây chết chóc, nghèo đói cho hàng triệu người bởi tra tấn và bởi tử h́nh.

Ở Việt Nam, những người cựu đồng minh của HK và giới công chức hay giới trí thức, giới thương gia bị thủ tiêu, bị tống vào các trại tù, khiến cho hàng trăm ngàn người chết mỏi ṃn. Hàng triệu người bỏ nước ra đi trên những con thuyền mong manh ọp ẹp, nhiều ngàn người chọn biển Đông là mồ chôn.

Ba thập niên sau, vẫn có cuộc tranh luận chính đáng về đề tài, lư do HK tham gia cuộc chiến VN và ra đi bằng cách nào. C̣n tôi th́ tâm tư tôi hoàn toàn không tranh luận, là cựu chiến binh của chiến trường VN phải được chính quyền HK nhiệt t́nh tuyên dương. Không biết quan điểm đứng về phía nào, nhưng đừng quên rằng di sản VN là sự rút lui của HK phải trả bằng gía hàng triệu sinh mạng người dân VN vô tội chịu nhiều đau khổ và sinh ra những từ ngữ mới như: "thuyền nhân" "trại tù cải tạo" "những cánh đồng chết."

D)- Nếu chúng ta bỏ rơi nhân dân Iraq, th́ bọn khủng bố sẽ trở thành táo bạo hơn, và sẽ dùng chiến thắng của chúng để chiêu mộ thêm nhiều binh lính. Như chúng ta đă thấy, cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9, bọn khủng bố từ những nơi trú ẩn an toàn cách xa bên kia thế giới lại có thể đem cái chết và hoang tàn đến nhiều ngă đường của phố thị của chúng ta. Khác hơn VN, nếu chúng ta rút lui khi chưa hoàn thành sứ mạng th́ kẻ thù địch sẽ đuổi theo chúng ta về tận quê hương xứ sở nầy. Do đó, v́ sự an ninh của HK chúng ta phải chiến đấu với kẻ thù từ mặt trận hải ngoại để chúng ta không phải đương đầu với chúng tại quê hương Hoa Kỳ.

Ở chiến trường Iraq, quân đội của chúng ta đi khắp nơi trong lănh thổ Iraq để chiến đấu chống lại phần tử  cực đoan, phần tử kích động, và bọn sát nhân.

Họ đă loại bỏ khủng bố ở những trung tâm đông dân cư, họ đă giải cứu các gia đ́nh ở các thành phố Iraq để dân họ có thể sống ổn định và có được một tương lai tươi sáng.

Quân đội của chúng ta nh́n thấy được những tiến bộ đang xảy ra nơi hiện trường. Và họ đang trong thế thượng phong, họ có một câu hỏi là: liệu các lănh đạo được bầu bán ở Washington có rút cầu sau khi họ chiếm được vị thế và tạo được vị trí quan trọng tại Iraq? Đây là câu trả lời trung thực nhất của tôi: "Chúng ta ủng hộ quân đội của chúng ta, chúng ta ủng hộ các tướng tư lệnh, chúng ta sẽ cung cấp cho họ mọi phương tiện để họ đạt được thành công."

LỜI KẾT: Thế hệ trước của Hoa Kỳ đă cho kẻ bạo ngược một bài học là: "không có sức mạnh nào bằng sức mạnh của tự do và không có người chiến sĩ nào anh dũng bằng những chiến đấu cho tương lai của thế hệ kế tiếp. Khi vai tṛ của HK hoàn tất ở chiến trường, th́ những đứa con của dân chủ toàn thắng sẽ giúp chúng ta đập tan mọi cố gắng ngoi lên của địch quân, và đem lại hương vị tự do cho hàng triệu người."

Vũ khí mạnh nhất của dân chủ là mơ ước tự do được khắc ghi trong trái tim con người bởi Thượng Đế. Nếu chúng tiếp tục trung thành chính nghĩa nầy, chúng ta sẽ đánh bại bọn cực đoan ở Iraq, và Afghanistan. Chúng ta sẽ giúp những dân cư ở đó đứng vững mạnh cho dân chủ được thực thi trong các vùng đất trọng yếu của Trung-Đông. Và khi các công tác khó nhọc đó hoàn tất và những lời chỉ trích xóa mờ trong trí nhớ, chính nghĩa của dân chủ sẽ vững mạnh hơn, và những vùng trọng yếu được tươi sáng hơn, và an ninh của nhân dân Hoa Kỳ sẽ an toàn hơn.

Xin chân thành cám ơn và chúc lành cho mọi người.

Phân tách bài Diễn Văn, chúng ta rút được những bài học sau đây:

I/- Chính sách Mỹ không có ai là kẻ thù hoặc bạn vĩnh viễn, mà là "quyền lợi của Mỹ là vĩnh viễn mà thôi.". Do đó hành pháp Mỹ đang ráo riết dọn đường vào VN bằng đồng Dollars vàcũ cà rốt. Dần dần vô hiệu hóa Điều 4/HP bọn đảng bảo thủ Mười, Anh, Mạnh, Phiêu ôm chân CS Tàu.

II/- Cái ưu điểm tuyệt vời là lư tưởng tự do, từ chân lư ấy đă đánh gục tất cả những nguỵ thuyết phản dân chủ và guồng máy cai trị cuồng bạo, mặc dù có khuyết điểm là bị chống đối khi Tổng Thống đang điều khiển cuộc chiến tranh, như đă từng xảy ra. Phía độc tài được cái ưu điểm nầy,  nhưng phi chân lư ắt phải bị tiêu diệt.

III/- Thân phận các nước nhược tiểu không thể ỷ lại vào Mỹ, mà phải có đường lối và biết tiên liệu những thay đổi của Mỹ về sách lược, và đặc biệt tùy thuộc vào vị Tổng Thống, tân TT của Đảng Cộng Ḥa hay Dân Chủ có tiếp tục chính sách của người tiền nhiệm, nếu không đảng. Kế là Quốc Hội  thuôc đa số phe nào, và giới truyền thông đóng vai tṛ hướng dẩn dư luân tác dụng hữu hiệu lên quần chúng. (ủng hộ hoặc chống bài học QD Mỹ tham chiến VN).

Cuộc chiến Triều Tiên và VN sự can thiệp quân sự của Mỹ giống nhau, dư luận thuận, nghịch và những chống đối quyết liệt chẳng khác nhau. Nhưng cơ may của Nam Hàn thời đó, TT Harry Truman  tại chức và cứng rắn theo đuổi đến mục đích cuối cùng. Riêng VNCH vận nước ch́m theo với số phận của TT Nixon qua vụ Water gate phải từ chức. Hơn thế nữa, TT Nguyễn-Văn-Thiệu, không thuộc loại lănh tụ sáng suốt và yêu nước. Ỷû lại vào Mỹ, không tiên liệu từ đầu, không đởm lược và yếu hèn bỏ chạy, khiến Miền Nam tan ră, tức tưỡi.

IV/- Cuộc chiến tại Iraq (Trung-Đông) Mỹ bày ra nhứt cử lưởng tiện:

Thứ 1:Tiêu diệt mầm móng bá quyền dầu lửa của Husen Sadam, TT Bush phải lấy cớ buộc tội Sadam, âm mưu chế tạo vơ khí khủng bố giết người hàng loạt, nên không thi hành hiệp định để Liên Hiệp Quốc thanh tra mà Sadam đă kư kết với Bush cha khi thua trận Kuwait, mà suốt thời TT Bill Cliton, bị Sadam từ chối, đuổi các phái đoàn thanh tra LHQ. Mỹ mới có cớ tiêu đánh Iraq diệt Sadam.

Thứ 2:  Mặt trận Trung Đông, sẽ là nơi cho bọn khũng bố và các hệ phái Hồi Giáo cực đoan toàn vùng bu vào, để tàn sát lẫn nhau mới làm suy yếu, và cũng là mục tiêu để quân đội Mỹ tiêu diệt bọn Al Qaeda đưa chiến tranh khủng bố ra khỏi nước Mỹ.

Dù nay mai Mỹ rút quân, chỉ cần viện trợ quân bị, tiền bạc (chỉ tốn 1/3 ngân sách so với sự hiện QĐ Mỹ tại chiến trường)  đổi lấy dầu lửa để tân chính phủ Iraq tuyển mộ nhiều sư đoàn, cảnh sát và củng cố guồng máy chính quyền vững mạnh, có Mỹ đứng sau th́ nhất định Tân Chính Phủ Iraq không thể nào mất. QĐ Mỹ không phải hy sinh xương máu, giới phản chiến chủ bại, không c̣n đề tài phản đối. Bọn giáo chủ Hồi Giáo cực đoan qúa khích, không c̣n chiêu bài đánh Mỹ xâm lược, đánh Mỹ cứu nước để kích động. Chỉ khi nào Mỹ phủi tay như VN th́ mới mất cả ch́ lẫn chài vậy.

Cao-Gia

Không Quên Bạn Tù

Không Quên Đồng Bào Đau Khổ

Trở về đầu trang

 

 

     

Home Up Cương Lĩnh Điều Lệ Lịch Sử Tổng Hội Bức Tường Chính Việt