Home Cương Lĩnh Điều Lệ Lịch Sử Tổng Hội Bức Tường Chính Việt

TÂM LƯ THẦN KINH CỦA CÁC TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM

ÁN TRÊN MƯỜI NĂM TRONG NHÀ TÙ CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Danh Sách  Y

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

CHƯƠNG II

CHƯƠNG III

Danh Sách  A

Danh Sách  B

Danh Sách  C

Danh Sách  D

Danh Sách  E G

Danh Sách  H

Danh Sách  K

Danh Sách  L

Danh Sách  M

Danh Sách  N

Danh Sách  O

Danh Sách  P

Danh Sách  Q

Danh Sách  R

Danh Sách  S

Danh Sách  T

Danh Sách  V

Danh Sách  X

Danh Sách  Y

MỤC LỤC

 

  ĐẠI CƯƠNG VỀ TÂM THẦN

CHƯƠNG I :

  • -Khái niệm về tâm thần và các bệnh tâm thần.

  • -Nội dung và đối tượng nghiên cứu.

  • -Sự liên quan giữa tâm thần học và các khoa học khác.

  • -Sơ lược về sự phát triển của ngành tâm thần học.

 

CHƯƠNG II:

Nguyên nhân và phân loại các bệnh tâm thần.

-Các nguyên nhân:

  • Dựa trên bảng phân loại quốc tế các bệnh tâm thần lần thứ 10 (ICD. 10 ).

  • Dựa trên bảng phân loại các rối loạn tâm thần lần thứ 3 có xét duyệt (DSM III ) của Hội tâm thần học Hoa Kỳ.

 

CHƯƠNG III:

-Các triệu chứng và hội chứng tâm thần.

  • -Rối loạn cảm giác và tri giác.

  • -Rối loạn cảm xúc.

  • -Rối loạn tư duy.

  • -Rối loạn trí nhớ.

  • -Rối loạn chú ư.

  • -Rối loạn hoạt động.

  • -Rối loạn ư thức bản thân trạng thái bối rối,

  • -Rối loạn nhân cách


CHƯƠNG I

KHÁI NIỆM VỀ TÂM THẦN VÀ CÁC BỆNH TÂM THẦN.

I.Nội dung và đối tượng nghiên cứu:

1)Tâm lư thần kinh là một bộ môn chuyên biệt của tâm thần học, nghiên cứu các hoạt động tâm lư của con người và trong giới hạn của đề tài này là các tù nhân lương tâm án trên mười năm trong nhà tù cộng sản Việt Nam.

Tâm thần học nguyên ngữ từ chữ Hy Lạp Psychiatria, gồm: Psyche là tâm thần; iatria là chữa bệnh. Nó nghiên cứu các biểu hiện lâm sàng, bệnh nguyên, bệnh sinh các chứng tâm thần, cùng các biện pháp pḥng và chống bệnh này.

Song với đề tài này, nó thiên về mô tả các hiện tượng tâm lư, mà vốn tâm lư là một khoa học nghiên cứu về sự ứng xử và các quá tŕnh tâm thần, qui luật này biểu hiện và phát triển cùng cơ chế h́nh thành các quá tŕnh đó.

Những bước tiến của tâm thần học: khởi đầu tâm thần học nghiên cứu các triệu chứng, hội chứng các qui luật biểu hiện và phát triển các rối loạn hoạt động tâm thần có tính chất cơ bản.

Song, trong khoảng thời gian hai mươi năm trở lại đây, ngành tâm thần học đă phát triển và chia thành những chuyên ngành như: Tâm thần học trẻ em, tâm thần học người già, tâm thần học pháp y, tâm thần học quân sự, dịch tể học tâm thần, tâm thần học dược lư và vệ sinh tâm thần...

Ngoài ra, c̣n có các ngành tâm thần khác như tâm thần học cộng đồng, sinh hoá tâm thần và trong tiểu luận này: TRIỆU CHỨNG TÂM THẦN CỦA CÁC TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM ÁN TRÊN MƯỜI NĂM.

2) Đối tượng nghiên cứu của tâm thần học: bệnh tâm thần.

Bệnh tâm thần là những bệnh do hoạt động của năo bộ bị rối loạn mà gây nên những biến đổi bất b́nh thường trong ư nghĩ, hành vi, cảm xúc, tác phong, suy luận, ư thức của người bệnh.

Phạm vi của bệnh tâm thần rất rộng, bao gồm những loại bệnh như sau: loạn tâm thần nội sinh, loạn tâm thần thực thể, loạn tâm thần phản ứng. Các bệnh loạn thần kinh thường có căn nguyên tâm lư. Ở dạng này, sự rối loạn của hoạt động vỏ năo nhẹ nên người bệnh không có những rối loạn tâm thần như các bệnh nêu trên. Họ có thể lao động, học tập như người b́nh thường, song hiệu quả có phần giảm sút.

Riêng các bệnh về nhân cách: người bệnh thường không nhận ra ḿnh đang có bệnh. Bệnh thể hiện qua sự khó khăn trong việc thích ứng với xă hội.

3) Bệnh tâm thần và bệnh thần kinh khác nhau như thế nào? Có thể phân biệt như sau:

  • -Người bệnh thần kinh không có ư nghĩ, cảm xúc, tác phong, hành vi kỳ dị khó hiểu, nhưng có các triệu chứng như liệt nửa người, liệt một chi, liệt tứ chi, teo cơ, đi đứng khó khăn, nói khó, nuốt khó, rối loạn về các giác quan như: nh́n, ngửi, nếm, nghe...

  • -Người bệnh tâm thần có thể đi lại b́nh thường, ăn chơi khoẻ, nhưng thường lại có những ư nghĩ, cảm xúc, hành vi kỳ lạ khó hiểu.

  • -Giữa hai bệnh tâm thần và thần kinh có sự liên quan mật thiết với nhau:

Ở những người bệnh thần kinh, khi tổn thương xâm phạm đến vỏ năo th́ ít nhiều đều có các rối loạn tâm thần như: rối loạn trí năo, cảm xúc, buồn rầu, lo lắng; rối loạn ư thức: lú lẫn, các ảo giác, thị giác, thính giác.

Ở những người bệnh tâm thần, như bệnh liệt tiến triển có thể gặp các triệu chứng thần kinh như: đồng tử hai bên to nhỏ không đều gây phản xạ với ánh sáng chậm hoặc mất đi.

II.Sự liên quan tâm thần học với các khoa học khác:

1) Liên quan với các môn lâm sàng: có sự liên quan mật thiết giữa hai ngành thần kinh và tâm thần. Thật vậy, trong quá tŕnh phát triển, hai bộ môn này thường ở chung với nhau bởi v́ con người là một khối thống nhất nên các bệnh tâm thần không chỉ liên quan trực tiếp đến năo bộ mà c̣n là biểu hiện của rối loạn hoạt động toàn cơ thể.

Ví dụ: các chấn thương sọ năo do bị đánh đập lúc tra tấn, tai nạn lao động có thể gây nên những rối loạn tâm thần khác nhau hoặc những cơn động kinh sau chấn thương sọ năo: các bệnh viêm năo, các u năo ít nhiều đều có rối loạn tâm thần.

Liên quan đến các môn lâm sàng:

  • Sinh hoá năo: ngày càng có nhiều công tŕnh nghiên cứu cho thấy rằng các hoạt động tâm thần b́nh thường như cảm xúc, trí nhớ, hưng cảm, trầm cảm... đều xuất hiện trên cơ sở với những biến đổi sinh hoá nhất định trong năo.

  • Miễn dịch học: cơ chế miễn dịch đang được sử dụng để giải thích bệnh nguyên, bệnh sinh của nhiều bệnh khác nhau trong đó có bệnh tâm thần.

  • Di truyền học: vai tṛ của di truyền học trong việc phát sinh ra các bệnh tâm thần nội sinh, các trạng thái chậm phát triển trí tuệ, các rối loạn nhân cách đang được các nhà khoa học nghiên cứu.

2) Liên quan với các môn khoa học khác:

  • -Tâm lư học đại cương và tâm lư y học là những môn cơ sở của tâm thần học. Các nghiệm pháp tâm lư và các trắc nghiệm lượng giá đă được ghi nhận có giá trị trong việc chẩn đoán và theo dơi kết quả điều trị các bệnh tâm thần.

  • -Ngoài bộ môn giáo dục học, pháp luật... tâm thần học có liên quan mất thiết với triết học. Bản chất của tâm thần, mối liên quan giữa tâm thần và cơ thể, giữa ư thức và tiềm thức, giữa hoạt động ư chí và hoạt động bản năng - là những vấn đề mà triết học quan tâm đến. 

III . Sơ lựoc về lịch sử phát triển ngành tâm thần học:

1.Lịch sử h́nh thành và phát triển của các học thuyết tâm lư học gắn liền với sự phát triển của loài người từ thời cổ đại đến cận hiện đại.

2.Sự phát triển của ngành tâm thần học: Bệnh tâm thần cũng như các bệnh khác tồn tại từ khi có xă hội loài người, nhưng trong một thời gian dài các yêu cầu nghiên cứu và chữa trị chưa được đặt ra.

a) Thời Trung cổ: Họ đă loại trừ những người mang chứng bệnh tâm thần ra khỏi thánh phố. Phần lớn họ bị tập trung vào các tu viện và các nhà cứu tế. Họ bị xem là do ma quỷ xâm nhập, bị ngược đăi gông cùm, xiềng xích và nhiều khi c̣n bị thiêu sống. Và điều nầy được lập lại trong thời hiện đại qua tiểu luận nầy: Con người b́nh thường bị biến thành “ma quỉ” trong các trại lao cải .

b) Vào cuối thế kỷ 18 và 19 :

  • -Ở Pháp: có Bác sĩ Pinel, 1792, đă đưa người bệnh tâm thần khỏi xiềng xích và đề nghị các nhà cứu tế của người bệnh tâm thần thành những cơ sở y tế, những bệnh viện. Về sau ở Pháp cũng xuất hiện các nhà tâm thần học nổi tiếng như Charcot với lâm sàng người bệnh Hysteria. Morel với bệnh sa sút sớm. Morel và Magnan bắt đầu đặt nền móng cho việc nghiên cứu vai tṛ của di truyền trong việc phát sinh các bệnh di truyền.

  • -Ở Anh: John Conolly tiếp tục cuộc cải cách do Pinel khởi xướng và đề xuất chế độ không tù túng. Henry Maudsley đă bắt đầu sáng lập ra ngành tâm thần pháp y và tâm thần học trẻ em.

  • - Ở Đức: Wilhelm Griesinger trong cuốn sách tâm thần học, 1845, đă khẳng định rằng bệnh tâm thần là bệnh của năo bộ. Karl Kahlbaum bắt đầu phân chia các h́nh thái rối loạn tâm thần ra từng đơn vị bệnh lư.

Đặc biệt Emil Kracpelin đă đúc kết những qui luật tiến triển lâm sàng của nhiều bệnh tâm thần, chủ yếu đă phân loại các bệnh tâm thần thành những đơn thể riêng biệt, tạo điều kiện nghiên cứu dễ dàng các bệnh tâm thần về các mặt bệnh nguyên, bệnh sinh, tiên lượng và điều trị.

c) Từ thế kỷ 20: trên nền tảng của các phát triển khoa học kỹ thuật, ngành tâm thần học đă phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong những ngành quan trọng của y học. Người bệnh tâm thần được cứu chữa đến mức tối đa. Hầu hết các nơi đều có các bệnh viện tâm thần khang trang, đẹp đẽ với các phương tiện như: tâm lư trị liệu, xă hội trị liệu, vật lư trị liệu, âm nhạc trị liệu ngày càng được áp dụng rộng răi... với nhiều công tŕnh của Janet về suy nhược tâm thần. Bleuler về bệnh tâm thần phân liệt.

Và cũng trên cơ sở trị liệu khác hơn mọi thế kỷ trước, với nền tảng của thứ triết học xă hội chỉ phát triển trên sự một mất một c̣n của cái gọi là đấu tranh giai cấp, con người thay v́ chữa trị đă biến con người không điên thành kẻ điên .


Trở về đầu trang

 

CHƯƠNG II

 

NGUYÊN NHÂN VÀ PHÂN LOẠI CÁC BỆNH TÂM THẦN .

 

  • -Hoạt động tâm thần thông qua năo bộ, bệnh tâm thần phát sinh do những nguyên nhân trực tiếp làm tổn thương tổ chức năo hoặc làm trở ngại hoạt động của năo.

  • -Cơ thể và tâm thần là một khối thống nhất. Năo bộ và các cơ quan nội tạng, nội tiết... hoạt động trong một mối liên quan mật thiết với nhau. Các bệnh nội tạng, nội tiết đều gây ra các rối loạn tâm thần ở mức độ nặng nhẹ khác nhau.

  • -Con người chuyển hoá môi trường sống, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của môi trường này. Bệnh tâm tâm thần cũng là bệnh do các nhân tố có hại của môi trường sống gây ra như điều kiện vật chất, làm việc không tốt, tệ nạn xă hội, sự tha hoá của chế độ.

  • -Bệnh tâm thần phát sinh không phải chỉ do một nguyên tố gây ra, mà lệ thuộc vào các yếu tố khác nữa như: sức khoẻ toàn thân giới tính, tuổi tác, đặc điểm nhân cách, loại h́nh thần kinh. Những nhân tố không thuận lợi nầy tạo điều kiện cho sự phát sinh các bệnh tâm thần. Đó là hậu quả của sự tác động qua lại rất phức tạp giữa các yếu tố bên ngoài và các nhân tố nội sinh.

 

I.Các nguyên nhân khác nhau của các bệnh tâm thần:

1) Bệnh tâm thần phát sinh do những nguyên nhân thực thể:

  • Do tổn thương trực tiếp đến tổ chức năo.

  • Nhiễm trùng thần kinh..

  • Viêm năo và màng năo.

  • Nhiễm độc thần kinh: nhiễm độc rượu, thuốc ngủ, nhiễm độc nghề nghiệp, thực phẩm.

  • Chấn thương sọ năo.

- Ngoài ra, c̣n do các bệnh cơ thể ảnh hưởng đến hoạt động năo như các bệnh nội khoa, nội tiết, các bệnh về chuyển hoá và thiếu sinh tố.

 

2) Bệnh tâm thần phát sinh do các nguyên nhân tâm lư:

  • Bệnh loạn tâm thần phản ứng.

  • Các bệnh loạn thần kinh: loạn thần kinh ám ảnh, loạn thần kinh lo âu.

3) Bệnh tâm thần phát sinh do cấu tạo thể chất bất thường và phát sinh tâm thần bệnh lư.

  • Các trạng thái chậm phát triển trí tuệ.

  • Nhân cách bệnh.

4) Các bệnh tâm thần nội sinh :

  • Bệnh tâm thần phân liệt.

  • Bệnh loạn tâm thần cảm xúc.

 

II.Các nhân tố thuận lợi cho bệnh tâm thần phát sinh

  • Nhân tố di truyền.

  • Yếu tố nhân cách.

  • Vấn đề tuổi tác.

  • Vấn đề giới tính.

  • T́nh trạng sức khoẻ toàn thân.

III. Các nguyên tắc xác định nguyên nhân bệnh tâm thần:

Có những điểm cần lưu ư sau đây:

  • -Tác động hỗ tương của các yếu tố bên ngoài và nhân tố nội sinh. Bệnh nhiễm trùng có thể gây ra loạn tâm thần nhiễm trùng ở người nầy mà không gây ra ở người khác.

  • -Các sang chấn tâm thần có thể gây bệnh nặng ở người nầy mà nhẹ ở người kia và có thể không tác dụng ǵ ở một số người nhất định.

  • -Trong ngành tâm thần học hiện nay, việc phân loại một số bệnh c̣n theo qui luật lâm sàng, song vẫn chưa có sự thống nhất giữa bệnh nguyên và bệnh sinh.

  • -Như vậy việc nắm vững h́nh thái lâm sàng và qui luật tiến triển có tầm quan trọng trong việc nghiên cứu các bệnh tâm thần. Điều nầy đă được chứng minh qua lịch sử tâm thần học.

 

IV. BẢNG PHÂN LOẠI QUỐC TẾ VỀ BỆNH TÂM THẦN:

Bảng phân loại quốc tế về bệnh tâm thần làn thứ 10 (ICD-10) của Tổ chức Y tế Thế giới và bảng phân loại DSM HI-R của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ.

 

Trên 900 nhà tâm thần học lâm sàng và nghiên cứu công tác ở 110 Viện tâm thần của 52 nước khác nhau đă tham gia vào việc biên soạn tài liệu nầy vào năm 1992.


Trở về đầu trang

CHƯƠNG III

 

CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ HỘI CHỨNG TÂM THẦN .

 

 

            Các triệu chứng tâm thần rất phong phú và đa dạng, nhiều triệu chứng riêng biệt kết hợp với nhau thành hội chứng. Sự hiểu biết về lâm sàng các bệnh tâm thần bắt đầu bằng sự nghiên cứu các triệu chứng và hội chứng.

            1) Đặc điểm của các triệu chứng và hội chứng tâm thần luôn luôn biến đổi và có những nét riêng tuỳ theo bệnh và các giai đoạn của bệnh. Ví dụ: Hoang tưởng của bệnh tâm thần phân liệt khác với hoang tưởng của bệnh tiến triển.

            Các triệu chứng và hội chứng tâm thần là một sự tổng hợp theo thời gian, đặc điểm ngôn ngữ, lứa tuổi, tầng lớp xă hội, địa phương dân tộc.

            2) Các triệu chứng âm tính và dương tính:

            Các triệu chứng âm tính như tư duy nghèo nàn, cảm xúc khô lạnh, bàng quang, lạnh nhạt, trí nhớ và trí năng giảm sút thể hiện sự tiêu hao mất mát trong hoạt động tâm thần.

            Các triệu chứng dương tính như ảo giác, hoang tưởng thể hiện những biến đổi bệnh lư phong phú, đa dạng trong hoạt động tâm thần.

            Các triệu chứng âm tính tiến triển từ từ, chậm chạp nhưng làm biến đổi nhân cách người bệnh ngày càng trầm trọng.

            Các triệu chứng dương tính tuy thể hiện rơ ràng, mạnh mẽ nhưng có khi chỉ là tạm thời và mất đi không để lại dấu vết ǵ.

                                                                                                                                                                        Qua các triệu chứng âm và dương tính, ta có thể tiên lượng một phần nào sự tiến triển của bệnh. Triệu chứng âm tính càng nặng càng khó khôi phục.

 

*

RỐI LOẠN VỀ CẢM GIÁC VÀ TRI GIÁC.

 

I . Khái niệm về cảm giác và tri giác:

 

            1.Cảm giác là những ǵ chúng ta nghe, nh́n, ngửi... Cảm giác phản ảnh những thuộc tính riêng rẻ của sự vật tác động trực tiếp vào các cơ quan cảm giác của ta. Cảm giác c̣n phản ảnh những trạng thái bên trong của cơ thể như nóng ruột, cồn cào, khó thở... Tuy là một quá tŕnh tâm lư đơn giản nhất, nhưng cảm giác có ư nghĩa quan trọng v́ nó là cơ sở của các quá tŕnh tâm lư phức tạp khác, không có nó ta không nhận thức được thế giới bên ngoài.

            Muốn gây được cảm giác, các vật kích thích phải đạt được tới một mức độ kích thích tối thiểu có thể dẫn tới cảm giác - gọi là ngưỡng tuyệt đối của cảm giác. Tất cả các vật kích thích chưa đạt tới mức tối thiểu đó đều ở dưới ngưỡng. Ngưỡng tuyệt đối càng thấp th́ tính nhạy cảm càng cao.Theo Kant:

            -Cảm giác thường nghiệm có thể dẫn đến sai lầm.

            -Cảm giác thực nghiệm sẽ dẫn đến tri thức đích thực.

 

            2. Tri giác:Tri giác là một quá tŕnh nhận thức cao hơn cảm giác. Tri giác là nhận thức những sự vật hiện tượng cụ thể tác động vào tín hiệu thứ nhất. Tất cả đều được ghi lại trong óc qua các biểu tượng và khi cần có thể tái hiện trong ư thức. Theo Kant:

            -Tri giác thường nghiệm đưa đến các nhận thức sai lầm.

            -Tri thức tiên nghiệm do thực nghiệm có thể đưa đến các tri thức tiên thiên, khoa học.

Trở về đầu trang

 

II . Rối loạn cảm giác và tri giác:

 

1) Tăng cảm giác (Hyperesthesia): Là tăng tính thụ cảm với những kích thích bên ngoài mà trong trạng thái b́nh thường ta không nhận thấy.

Ví dụ: các tù nhân nằm trong pḥng tối, khi ra bên ngoài thường bị chói mắt ngay, màu sắc sự vật trở nên rực rỡ, tất cả thế giới bên ngoài như quay cuồng chao đảo... và người nào khi bước ra khỏi pḥng tối kỷ luật cũng phải mon men vịn vào tường ít phút mới định thần.

   -Triệu chứng nầy hay gặp trong các bệnh loạn thần kinh cấp tính, trong trạng thái mỏi mệt.

   Ví dụ: các tù nhân suốt ngày dầm ḿnh trên phân người, dùng chân trộn đều phân mới lấy ra từ nhà cầu cùng lá cây để làm phân xanh với mùi hôi thối nồng nặc... Nó luôn ám ảnh họ ngay trong giấc ngủ và dường như toả đầy thứ mùi khó chịu từ nơi con người ḿnh.

   Ví dụ: các tù nhân mỗi lần nghe tiếng kéo cửa sắt, tiếng ch́a khoá khua leng keng... những âm thanh đó đối với họ như tiếng sét đánh, súng nổ trong ám ảnh sợ hăi.

 

2) Giảm cảm giác (Hypoesthesia):Trái với tăng cảm giác, giảm cảm giác biểu hiện ở chỗ giảm độ thụ cảm với các kích thích bên ngoài, người bệnh tiếp thu mọi sự vật một cách lờ mờ, không rơ rệt, xa xăm.

   Ví du: nhiều tù nhân sau một thời gian giam giữ, nhất là những người cao tuổi, hoặc những người trẻ bị đánh đập quá nhiều trước đó, mọi tiếng động dù ở gần nhưng nghe như rất xa xôi với họ, tiếng nói của người chung quanh không nhận ra của ai.

   Cụ thể:

-Tù nhân Lê thế Chân, án chung thân, Trung uư thuộc chế độ miền Nam trước đây, bị tập trung cải tạo, trốn trại lên chung thân, bị đánh đập tàn nhẫn khiến anh trở nên trầm cảm, đau ốm thường xuyên sau đó, mệt mỏi và thích tách biệt với thế giới đang sống. Thường xuyên phải mất vài phút anh mới trở lại trạng thái ứng xử b́nh thường khi có sự nhắc nhở của người bên cạnh.

            Cụ thể:

        -Tù nhân Lại thế Hương án 20 năm, đào thoát bị bắt trở lại, bị đánh đập trọng thương đến hậu quả cơ quan bài tiết không kiềm chế được nữa, cũng như trong giao tiếp chỉ trả lời: -ừ. ừ... trước sự nhắc nhở của người khác về vấn đề ǵ đó, thậm chí các bạn tù phải nhấc hông lên, rồi hướng dẫn đến việc sắp làm, lúc đó anh mới hiểu ra.

 

          3) Loạn cảm giác bản thể (Cenestopathia): là những cảm giác đa dạng hết sức khó chịu như nóng ran trong người, cấu xé trong ruột, điện giật trong óc... Các cảm giác nầy khu trú không rơ ràng trong các cơ quan nội tạng.

 

               Cụ thể:

               -Tù nhân Nguyễn văn Cẩn, án phạt 20 năm, bị giam giữ lâu dài trong pḥng tối tại nhà kỷ luật, mắt gần mù, bị tê liệt hai chân, lúc nào anh ta cũng than như có điện giựt trong óc, hoặc có ǵ cấu xé trong ruột. Tù nhân nầy cho biết đă từng ăn mùng mền trong nhà kiên giam v́ quá đói.

               Cụ thể:

               -Tù nhân Bùi Huệ, án phạt 20 năm, do bị giam giữ lâu dài tại nhà kỷ luật-khoảng ba năm, bị tê liệt hai chân, cơ thể co rút lại, chỉ c̣n da bọc xương, đôi mắt sâu chỉ c̣n nh́n thấy đôi chút tṛng trắng lộ ra nói lên khát vọng xin được sống. Lúc nào anh cũng chắp miệng than có cái ǵ làm anh nóng ran trong người, nhức nhối như kim chích khắp toàn thân.

               Cụ thể:

               -Tù nhân Nguyễn văn Sồi, án phạt 20 năm, đang ngồi theo đội ngũ chờ lao động khổ sai, bật ngửa té ngă v́ đột qụy, về sau bị bán thân bất toại, lúc nào cũng kêu đau nhức toàn thân, điện giựt trong đầu và kêu than: chết, chết thường xuyên.

 

        4)Ảo tưởng (Illusion): là tri giác sai lầm về các đối tượng có thật trong thực tế khách quan. Ví dụ khi nghe tiếng rít của thanh sắt kéo cửa hay tiếng khua lẻng kẻng của ch́a khoá, các tù nhân tưởng là công an đang đến gần họ và các tù nhân sắp bị tra tấn.

 

               Ảo tưởng theo giác quan gồm các loại:

 

               a) Ảo tưởng thị giác: ví dụ: nh́n cảnh quan trại giam tưởng như một tu viện. Trông thấy Giám thị trưởng, các cán bộ tưởng như sắp bị chửi mắng, c̣n các tù nhân th́ liên tưởng đến rắn rít, ma quỷ và đầy cảm giác lo âu rằng ḿnh sắp bị hại.

               Cụ thể:

               -Tù nhân Nguyễn văn Thể, Linh Mục, án tập trung, trong thời gian hơn một năm bị nhốt ở kiên giam, mỗi lần cánh cửa pḥng riêng được mở ra để làm vệ sinh, vị Linh mục nầy liền phóng ra và vác thanh gỗ chận cửa chạy khắp trại giam. Vị Linh mục nầy tưởng rằng đó là cây Thánh giá mà ông phải gánh hằng ngày...

               b) Ảo tưởng thính giác: ví dụ các tù nhân nằm ở khu tử h́nh, khi nghe tiếng khua cửa vào lúc bốn năm giờ sáng, họ tưởng ḿnh sẽ bị mang đi bắn. Các tù nhân đang bị giam cứu khi nghe đến cáo trạng, danh từ Viện kiểm sát, họ liền nghĩ đến việc ḿnh sẽ bị ra toà, bị kết án. Hoặc nghe tiếng c̣i hụ tưởng sắp chuyển trại hay có tù nhân nào mới đến... Nghe tiếng kẻng là tưởng đến sự mệt mỏi, uể oải, phải lao động khổ sai.

               c) Ảo tưởng về vị giác: ví dụ các tù nhân bị thiếu thốn về vật chất lâu ngày khi nghe có mùi thơm từ nhà bếp khử hành mở, thường tưởng đến các bữa ăn thịnh soạn ngoài đời... khi nhai cơm với nước muối thật lâu thấy ngọt tưởng là đang ăn món cao lương mỹ vị... khi đói quá, các tù nhân nhai nuốt từng mảnh xương cá, cụ thể có Bác sĩ Vĩnh ở trại tam giam Trần Phú thuộc Tỉnh khánh Hoà, ngồi nhai xương cả ngày và tưởng là đang tái tạo can xi...

 

            Ảo tưởng theo bệnh lư gồm các loại:

 

       a) Ảo tưởng cảm xúc (affective illusion): tức là ảo tưởng xuất hiện trong các trạng thái của bệnh lư: lo âu, sợ hăi, trầm cảm, hưng cảm.

               Ví dụ: tâm trạng của các tù nhân lúc nào cũng lo lắng, sợ hăi, bị trấn áp, nên chỉ cần thấy bóng dáng cai tù thoáng qua... tưởng là sắp có khủng bố ǵ đây.

 

               -Ảo tưởng lo âu, xao xuyến (anxiety):

               -Lo âu là cảm nhận có một nguy cơ khó tránh nhưng không định được đó là ǵ, kèm theo bực bội, cảm thấy bất lực truớc nguy cơ đó. Lo âu nặng hơn sẽ tạo ra xao xuyến, cảm thấy hồi họp, ngợp thở, khó ngủ, mệt và khó chịu toàn thân.

               -Lo âu là phản ứng của con người tự cảm thấy thấy thấp hèn, bất lực bị lệ thuộc vào kẻ khác.

               Ví dụ: lo âu thường xuyên của các tù nhân là sắp tới ḿnh có được gặp gia đ́nh, họ luôn bị đe doạ cúp thăm nuôi, không được nhận quà... và càng đến gần kỳ thăm gặp sự lo âu tăng cao thành xao xuyến, rồi hồi họp, khó ngủ, mệt và khó chịu toàn thân.

               Ví dụ: trong thời gian giam cứu chờ ngày xét xử, tưởng tượng h́nh ảnh trước phiên toà, thời gian chờ đợi đi lao động khổ sai sau khi có bản án, hay thời gian nằm chờ xét xử trở lại... Các tù nhân luôn có sự lo âu, xao xuyến nhiều đến hoang tưởng.

               Cụ thể:

               -Các học thuyết mọc lên rất nhiều trong tù v́ “các lư thuyết gia” luôn lo âu cho một dân tộc không có cây gậy dẫn đường, nên nặn ra đủ mọi thứ tư tưởng, như học thuyết Đại đồng của ông Thiện Đạt, một Đại Đức thuộc môn phái Phật Giáo Cổ Sơ Môn. Học thuyết Liên Tôn của Linh mục Nguyễn văn Vàng. Học thuyết Nhân bản Tiến bộ của Luật sư Nguyễn Khắc Chính. Học thuyết Duy Dân của Linh mục Nguyễn Huy Chương. Học thuyết Hoà giải Dân tộc. Học thuyết B́nh sản.v.v. nhưng nội dung của nó không có ǵ mới lạ hoặc chỉ là những nét phát thảo, h́nh thành trong lo âu tưởng tượng thái quá so với khả năng tri thức của chính ḿnh. Mặc dù vậy, họ cũng mất ăn, mất ngủ... thậm chí có khi bị kỷ luật đến mất mạng, trong khi nó chỉ là “đầu voi đuôi chuột”.

               Cụ thể:

               - Các tù nhân chết trong tù v́ chứng tim mạch, áp huyết cao rất phổ biến. Thậm chí có nhiều trường hợp các tù nhân phải uống nước muối từ sáng sớm, để huyết áp tăng cao khi khám bệnh sẽ được nghỉ lao động khổ sai trong ngày hôm ấy, hoặc ngồi thiền luyện khí công đưa nhiệt độ cơ thể lên 38 0 đến 390... để được nghỉ trong ngày v́ quá sợ lao động.

               Cụ thể: các tù nhân bị tim mạch hoặc áp huyết cao:

-  Nguễn văn Thuận, án chung thân, ngoài 60 tuổi, chết v́ cao huyết áp.

-  Phạm văn Dụ, án 20 năm, ngoài 60, chết v́ tim mạch.

-  Lưu Trung, án 17 năm, ngoài 60 tuổi, cao hyết áp.

-  Lư Sen, án 15 năm, ngoài 60 tuổi, cao huyết áp, tiểu đường.

-  Lê văn Tám, án 15 năm, ngoài 50 tuổi, cao huyết áp.

-  Trần văn Cẩn, án 20 năm, ngoài 50 tuổi, cao huyết áp.

-  Lê  Mại, án 20 năm, ngoài 70 tuổi, cao huyết áp, chết v́ tim mạch.

-  Nguyễn quang Minh, án 20 năm, ngoài 60 tuổi, cao huyết áp.

-  Nguyễn đan Quế, án 20 năm, ngoài 50 tuổi, cao huyết áp.

-  Lê thanh Quế, án phạt 15 năm, ngoài 50 tuổi, cao huyết áp, tim mạch.

-  Nguyễn văn Chờ, án 20 năm, ngoài 50 tuổi, chết v́ áp huyết tăng cao đột ngột.

-  Nguyễn đ́nh Hoạt, án 20 năm, ngoài 50 tuối, chết v́ áp huyết lên đột ngột.

-  Nguyễn huy Chương, án 20 năm, ngoài 60 tuổi, tim mạch, phù cả thân người và chết.

-  Nguyễn văn Vàng, án 20 năm, ngoài 60 tuổi, tim mạch.

-  Lê phạm Long, án 20 năm, ngoài 50 tuổi, tim mạch.

-  Trương phúc Đức, án 20 năm, ngoài 50, chết v́ tim mạch.

-  Nguyễn văn Nở, án 20 năm, ngoài 50 tuổi, chết v́ tim mạch.

-  Nguyễn văn Nho, án 20 năm, ngoài 60 tuổi, tim mạch.

-  Nguyễn văn Tống, án chung thân, ngoài 50, tim mạch và lao phổi.

-  Nguyễn văn Hiển, án 20 năm, ngoài 70 tuổi, tim mạch.

-  Nguyễn văn Lô, án 20 năm, ngoài 60 tuổi, chết v́ tim mạch.

 

               Cụ thể : tâm lư các tù nhân hay rụt rè, khúm núm, một thưa hai dạ... Thậm chí ngay cả với các thanh niên vừa mới lớn, nhưng khoát áo cai tù hoặc đóng vai du kích ... Các tù nhân dù cao tuổi cũng phải bẩm dạ, thưa cán bộ một cách sợ sệt đáng thương.

               Ví dụ: các tù nhân có sự sợ hăi đến độ cộng tác đắc lực với cai tù mà hầu như khi ra khỏi trại không ai quên được các tên: Đại tá Tí, Đại tá Châu, Trung tá Mai, BS Nhiếp, Thiếu tá Lăm, Nguyễn đ́nh văn Long, Vũ văn Cẩn, Lư Sen, Trần đ́nh Nguyên, Nguyễn văn Cần...

               -Xao xuyến cũng có thể bắt nguồn từ những bực tức, bị ức chế, đè nén, không nói ra được... Cụ thể mỗi chiều trước lúc điểm danh, dù chỉ vài phút ngắn ngủi, các tù nhân hay tràn ra hành lang để trao đổi thông tin, sưởi ấm cho nhau về tinh thần. Thái độ hoang mang, xao xuyến thấy rơ khi có tù nhân nào vừa mới thăm nuôi, họ luôn t́m gặp để thăm ḍ tin tức về thế giới bên ngoài, nhằm trấn an chính ḿnh v́ lúc nào cũng lo âu sợ hăi. Nên mới có câu khẩu hiệu luôn xuất hiện trước các trại giam: An tâm cải tạo...

 

               -Ảo tưởng hưng cảm: Hưng phấn là trạng thái hoạt động của một trung khu hay một nhóm trung khu thần kinh khi có một xung động thần kinh truyền tới. Thật vậy, bất cứ một cảm giác, một tư tưởng, một hành động của con người cũng dựa trên cơ sở một hoạt động thần kinh nhất định.

               Toàn bộ hoạt động của hệ thần kinh cũng như của từng tế bào thần kinh đều diễn ra trong hai quá tŕnh cơ bản là hưng phấn và ức chế.

               Hưng phấn giúp hệ thần kinh thực hiện được phản xạ, khi con người đang có một hoạt động ư thức th́ lúc đó trên vỏ năo có điểm hưng phấn ưu thế hơn các điểm khác. Để chinh phục con người phải biết tạo điểm hưng phấn ưu thế về vấn đề đó, như tạo nên sự hoạt bát nhanh nhẹn, cởi mở, dễ thích nghi với môi trường mới, nhưng có nhược điểm khi hưng phấn thường hay nói nhiều dễ bị hiểu lầm, dẫn đến “tiền hậu bất nhất “, đa ngôn.

               Cụ thể thể hiện qua các tù nhân :

-  Tù nhân Nguyễn văn Châu (Châu sángThế), án tập trung, vui vẻ hoạt bát, gặp ai cũng vồn vă như đă quen thân từ “kiếp trước”. V́ nói nhiều nên phải có cái ǵ để nói, do vậy ông luôn tạo ra những thông tin giả theo trí tưởng tượng của ḿnh, các tù nhân chứng kiến lấy làm buồn cười về việc đưa tin của ông, nhưng họ cũng lấy làm thích v́ ai cũng muốn có chút hy vọng trong tuyệt vọng như ông vừa quay lưng đi, lúc ngoảnh lại đă có tin tức mới của hăng thông tấn này nọ.

-  Nguyễn văn Chức, án 20 năm, nói cười huyên thuyên, người nghe và cả chính ông cũng không biết nội dung là ǵ, song rất vui vẻ.

-  Nguyễn văn Lịch, án chung thân, lúc nào cũng nói về những tin nóng rất lạc quan tếu v́ chính ông cũng không rơ nguồn tin đó từ đâu đến, mà chính ḿnh đang bị vây kín trong bốn bức tường, và cả người nghe cũng vậy, họ biết những ǵ ông nói chỉ là hoang tưởng, nhưng v́ là con người nên có lúc muốn nghe một vài điều ǵ đó vẫn hơn không hay biết ǵ hết .

-  Lê phạm Long, án 20 năm, các tù nhân gọi nhà báo nầy là “Ông miệng có quai”, nghĩa là nói nhiều và có đủ mọi chuyện để nói trong cái gọi ảo tưởng của tư duy.

 

               -Ảo tưởng lời nói (verbal illusion): trong ảo tưởng lời nói người bệnh nghe rất rơ lời nói, nhưng nghe sai lệch câu này thành câu khác. Trong hoang tưởng thường người bệnh không nghe rơ mà hay suy đoán câu chuyện qua thái độ người chung quanh hay nghe rơ ràng câu nói nhưng t́m một ư nghĩa cho câu nói đó theo nội dung hoang tưởng của ḿnh.

Cụ thể: về phía các cán bộ quản lư trại giam bao giờ cũng đầy thành kiến đối với các tù nhân, mọi quan điểm đến hành vi của tù đều là láo, phản động... Nên câu nói mở đầu thay lời chào khi gặp các tù nhân: Mày tao, thằng nầy thằng nọ, đồ láo khoét...

Cụ thể: khi các tù nhân khai bệnh đều bị nghi ngờ là giả vờ để trốn tránh lao động, như tù nhân Trần vĩnh Đắc bị mù, bị điếc th́ cho là đóng kịch và có chuyện đă xảy ra: cán bộ y tế trại giam đă dùng que tre thọt vào tai của bệnh nhân để xem có điếc thật hay không, cũng như dùng kim chích nhẹ vào mắt để xem có mù thật sự hay không. Ông chỉ c̣n biết than trời và kêu thành tiếng “nghiệp báo, nghiệp báo v́ ngày trước ta đă chích con người thế nào, nay họ đă chích lại ta thế ấy”. Ông nguyên là Tổng cục trưởng Nha cải huấn trước đây.

Cụ thể: Về phía các tù nhân bao giờ cũng trong thành kiến: đó là lời nói của quỷ đỏ, xấu xa nhất trên trần gian nầy. Như khi viên Giám thị trưởng trại Xuyên mộc xuống kiểm tra các pḥng giam, tù nhân Minh Triết đă nhảy ra và quát lớn một cách giận giữ vào mặt viên Trưởng trại nầy:

-Hăy cút về Bắc ngay, quân ăn cướp, tay sai cho Nga Tàu, đồ bán nước, hăy cút về Bắc ngay... Tất nhiên anh ta bị kỷ luật tàn nhẫn sau đó và trong hiện tượng nầy diễn ra t́nh huống mặc ai nấy nói, cũng như hiểu theo ảo giác về lời nói của ḿnh.

 

    - Ảo tưởng kỳ lạ (bizarre Illusion): Ảo tưởng kỳ lạ thường xuất hiện trong trạng thái mê sảng ở các bệnh tâm thần cấp tính. Đó là những ảo tưởng rất phong phú, kỳ lạ xuất hiện ngoài ư muốn người bệnh một cách dồn dập.

Ví dụ: thấy bóng đèn chiếu sáng lập loè th́ bảo là hào quang của tiên thánh, thấy bóng đen th́ bảo là quái vật, thấy sự biến đổi của mây trôi th́ bảo là h́nh ảnh của tiên thánh đang di chuyển.

Cụ thể những “Ông Đạo” trong tù, các tù nhân nầy thường ngồi toạ thiền, và sau những lần nhắm mắt cùng cái đầu gật gật... Theo lời kể những giây phút siêu thoát ấy thật tuyệt vời: họ đă gặp hết vị tiên nầy đến vị tiên khác. Các tù nhân nầy lúc nào tâm thần họ cũng như trong mơ, ánh mắt luôn lờ đờ lim dim, huyền ảo. Họ là:

-  Nguyễn văn Ẩn, án trên 10 năm, ngoài 50 tuổi.

-  Nguyễn văn Lờ, án 20 năm, ngoài 50 tuổi.

-  Nguyễn văn Lộc, án trên 10 năm, luôn mặc áo đỏ.

-  Nguyễn văn Hải, án 15 năm, trên 30 tuổi.

-  Nguyễn Nam  án 20 năm, trên 40 tuổi.

-  Dương thiện Tịnh, án chung thân, trên 40 tuổi.

-  Dương thiện Tường, án 20 năm, trên 30 tuổi.

-  Vơ Trực, án trên 10 năm, ngoài 30 tuổi.

-  Nguyễn văn Tiên, án 20 năm, ngoài 40 tuổi.

-  Nguyễn văn Đỏ, án chung thân, ngoài 40 tuổi.

 

               Cụ thể :

               - Tù nhân Nguyễn văn Tháo, án 20 năm, thường tổ chức cầu cơ và theo chính ông thuật lại rằng: đă gặp một vị thánh tên Năm -vị thánh nầy cho ông biết nhiều tin tức thời sự, về tương lai của dân tộc, cũng như phong chức tước cho các tù nhân trong việc lănh đạo đất nước. Vào một buổi tối, dịp cầu cơ để phong chức tước đă xảy ra, có người tham vọng đến chức Tỉnh trưởng, nhưng ông thánh Năm chỉ cho làm lính gác ở Quận... Sự việc bắt đầu mâu thuẩn từ đó và việc cầu cơ bí mật bị bại lộ. Hầu hết các tù nhân trong nhóm nầy đều bị cùm lâu dài trong nhà kỷ luật. Các tù nhân tổ chức cầu cơ nầy, sau khi rời khỏi nhà kiên giam, người nào cũng trải qua những trận đánh đ̣n đầy thương tích và người nào cũng trở nên lờ đờ, thẩn thờ, u uất, bệnh tật nghiêm trọng dẫn đến các chứng tâm thần từ sự thoái hoá của thân xác.

 

          5. Ảo giác (hallucination): là tri giác như có thật về một sự vật, một hiện tượng không hề có trong thực tế khách quan gần như một thái độ ngụy tín. Ảo giác nầy xuất hiện và mất đi không phụ thuộc theo ư muốn của người bệnh. Ảo giác có thể kèm theo rối loạn ư thức như mê sảng hoặc kèm theo rối loạn tư duy như hoang  tưởng.

               Cụ thể: trong tù xuất hiện rất nhiều giáo chủ và các kẻ xưng vương, họ là:

-        Giáo chủ Nguyễn văn Thu, án tập trung. ngoài 30 tuổi.

-        Giáo chủ Huỳnh Hừng, án 15 năm, ngoài 50 tuổi.

-        Giáo chủ Nguyễn Nam, án 20 năm, ngoài 40 tuổi.

-        Giáo chủ Nguễn văn Lộc, án trên 10 năm, ngoài 40 tuổi.

-        Giáo chủ Nguyễn văn Đỏ, án chung thân, ngoài 30 tuổi.

-        Giáo chủ Vĩnh Hy, án tập trung, ngoài 40 tuổi.

-        .Nhóm Siêu Thiên Tử, phần lớn các tù nhân thuộc nhóm nầy có án chung thân, họ c̣n rất trẻ, có người chưa tới 30 tuổi. Họ tự xưng là những người con của Trời, xuống thế để hành đạo và biến đổi đời.

Trở về đầu trang

 

CÁC LOẠI ẢO GIÁC :

 

Ảo giác thật: người bệnh tiếp nhận ảo giác như một sự vật có thật trong thực tại, không phân biệt được ảo giác với sự vật thật .

  Ví dụ: các tù nhân nghĩ rằng ḿnh vẫn luôn đảm trách hoặc sẽ giữ những chức vụ quan trọng trong tổ chức xă hội... nhưng thực tế đang là một người tù với một tương lai đầy bất trắc, không thể lường trước được việc ǵ sẽ xảy ra.

 

  Cụ thể :

-        Nguyễn văn Viên, án tử h́nh, song vẫn luôn nghĩ ḿnh sắp được mời ra làm Thủ tướng cho đến ngày bị mang ra trường bắn.

-        Nguyễn văn Vàng, án 20 năm, Chủ tịch mặt trận Liên tôn, vẫn luôn nghĩ ḿnh là một Chủ tịch, một lănh tụ hàng đầu của quốc gia.

-        Nguyễn huy Chương, án 20 năm, vẫn luôn nghĩ ḿnh là một Chủ tịch. một lănh tụ hàng đầu, bị kiên giam đến chết.

-        Đinh tiến Khẩu, án 7 năm, vẫn luôn nghĩ ḿnh ở cương vị một Thủ tướng.

-        Lư công Cường, án 20 năm, luôn nghĩ ḿnh là Thủ tướng, và đó là cơ Trời ban xuống. “Dù có thế nào ta cũng là lănh tụ vĩ đại v́ ta đă dám chống lại cộng sản”.

-        Châu (sáng Thế), tên thật Nguyễn văn Châu, án tập trung, tự phong cho ḿnh là vua nhập thế để cứu dân tộc khỏi hiểm hoạ cộng sản, nên lúc nào, hành vi cũng mang dáng dấp của một “Quân vương” đến với chư dân, như cử chỉ khoan thai, nụ cười độ lượng, bước đi thanh thoát...

-        Nguyễn khắc Chính, án chung thân, một Luật sư lúc nào cũng nghĩ ḿnh sẽ trong cương vị Thủ tướng, Tổng thống và đất nước nầy không thể thiếu ta được. Các tù nhân muốn gặp đàm đạo với ông đều phải hẹn trước, song với cai tù th́ dường như lúc nào ông cũng bị ám ảnh, sợ hăi: chúng sẽ giết ông, nên ông hay gọi chúng là “Thầy” trước mặt, là “thằng“ sau lưng, v́ chúng có thể là cứu tinh và cũng là kẻ sát hại một nhân vật quan trọng như ông.

               -Nguyễn văn Đức, án tập trung, nguyên là một Hạ sĩ trong chế độ miền Nam trước đây, và ước mơ của y là được làm Thiếu tá. Nhân có lời kêu gọi của chính phủ mới yêu cầu các sĩ quan trong chế độ cũ phải ra tŕnh diện, y tự xưng là Thiếu tá và cũng từ đó y nhận lănh hết án tập trung nầy đến án tập trung khác. Vào tù lúc nào y cũng cho rằng ḿnh là một Hoàng tử hoá thân vào nhà tù để cùng sống với thần dân... Và cách sống của người tù nầy cũng rất “Hoàng tử”, như có thăm nuôi là phân phát hết cho người kém may mắn, giúp đỡ mọi người một cách ân cần trong cách thế của người trên đối với bề dưới, dù chỉ mới chưa đầy 30 khi mới vào tù.

               -Nguỵễn văn Châu, án 20 năm, lúc nào cũng nghĩ ḿnh đang là một nhân vật có tầm cở từ Thứ trưởng trở lên, thực tế học lực chỉ ở cấp hai, trong cách sống luôn cố đóng vai cho có vẻ Bộ trưởng ... Tất nhiên v́ là ảo giác thật nên với người chung quanh là không thật đến lố bịch.

 

              Ảo giác giả: cũng như ảo giác thật mang tính chất cụ thể, nhưng khác với ảo giác thật là h́nh ảnh ảo giác không phải từ ngoài đến mà lại khu trú trong đầu, từ trong cơ thể phát ra, bệnh nhân nhận thức được chúng không phải bằng giác quan mà bằng trong ư nghĩ.

               Vi dụ :người bệnh nghe tiếng nói từ trong đầu.

 

               Cụ thể qua các tù nhân:

-        Huỳnh Th́, án 20 năm, bị đánh đập khi trốn trại về sau mắc chứng trầm uất, lúc nào miệng cũng lầm bầm như đang nói chuyện với người yêu, hoặc với Thần thánh, thích ngồi một ḿnh, mắt nh́n lên trời hay nh́n chăm chăm xuống mặt đất như đang nghe lời đối thoại.

-        Nguyễn văn Đỏ, án chung thân, lúc nào miệng cũng lầm bầm như đang nghe và đáp lại lời của những người ngoài vũ trụ.

-        Nguyễn văn Lộc, án trên 10 năm, lúc nào cũng kể cho mọi người nghe: ông đă vừa nghe tiếng nói của các vị tiên và mách bảo. Khi có tiếng thoảng qua lùm cây, bụi cỏ... ông cho đó là hiện tượng có tiên thánh đi ngang qua.

-        Nguyễn văn Nghi, án 6 năm, thỉnh thoảng trong giấc ngủ, tù nhân nầy bừng tỉnh dậy và la lớn: chúng giết tôi, chúng giết tôi... và tôi đă nghe rơ tiếng lên c̣ bóp đạn của bọn chúng. Thật sự những âm thanh ấy chỉ có từ trong tiềm thức của người tù nầy, các tù nhân khác vẫn yên giấc và không nghe thấy ǵ cả.

-    Nguyễn văn Lô, án 20 năm, thăm nuôi thường xuyên, nhưng lại chơm chỉa đồ ăn của người khác. Trong các cuộc họp kiểm điểm ông nói: có tiếng gọi từ xa đến và bảo ông làm như thế... rồi ngă vật người ra v́ chứng tim mạch. Các tù nhân khác v́ lư do nhân đạo không ai dám phê b́nh ǵ cả.

-    Nguyễn văn Lân, án 12 năm, thường xuyên nhảy vào nhà kho để ăn cắp đồ đạc của các tù nhân khác, có khi trốn ngồi trong kho và ăn luôn gạo sống cho đến khi anh em đi t́m và bắt gặp. Tù nhân nầy bảo có tiếng gọi và sai khiến anh ta.

-        Nguyễn văn B́nh, án chung thân, lần thứ nhất nhảy xuống giếng tự tử và được cứu sống. Trả lời câu hỏi tại sao, anh bảo: có tiếng gọi hăy làm để phản đối về sự đối xử quá tồi tệ đối với các tù nhân. Lần thứ hai, anh thắt cổ tự tử, và được phát hiện kịp thời. Anh trả lời: có tiếng gọi hăy làm điều đó để phản đối chế độ lao tù quá hà khắc và đ̣i hỏi nhân quyền cho con người. Lần thứ ba, anh đă nhảy vào chảo nước sôi, có lẽ cũng đ̣i hỏi quyền sống cho con người và anh đă ra đi vĩnh viễn.

-        Cao văn B́nh, án chung thân, luôn nằm co rút một chỗ, thường xuyên nằm bệnh xá v́ bệnh lao phổi do lao động kiệt sức. Các tù nhân khuyên nên hoạt động, song tù nhân nầy bảo: có tiếng gọi hăy nằm yên, nếu không chúng sẽ giết, hăy nằm yên và im lặng, đợi chờ.

-  Vơ văn Bộ, án tập trung, lúc nào trên các tờ kiểm điểm khai cung, ông cũng đề “Mẹ sẽ thắng, Mẹ sẽ thắng“ thay cho tên nước Cộng Hoà Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Trong ánh mắt của vị Linh mục nầy như luôn có tiếng gọi: Mẹ đây, Mẹ sẽ thắng... Và tất nhịên vị Linh mục nầy đă bị kỷ luật sau mỗi lần ghi như thế.

-  Nguyễn văn Luân, án chung thân, luôn đấu tranh cho quyền con người không mệt mỏi, ông tâm sự như luôn có tiếng gọi thôi thúc của nhiều người bất hạnh trên đất nước nầy, và ông đáp lời mà hành động. Trong suốt thời gian ở tù, hầu như lúc nào cũng bị kiên giam v́ những đ̣i hỏi cho quyền sống của con người, đ̣i cải thiện chế độ lao tù.v.v.

-  Bùi văn Bộ, án 20 năm, ngoài 60 tuổi, hay đau ốm và nằm bệnh xá thường xuyên, ông luôn ngồi co rút cầu nguyện, tù nhân nầy luôn trong sự sợ hăi, ám ảnh chúng sẽ giết ông, ông nói: có tiếng gọi của Bề Trên nhắc nhở ông - con hăy luôn tỉnh thức và cầu nguyện, chúng đang t́m mọi cách giết hại con.

Trở về đầu trang

 

Các loại ảo giác thật:

 

  Ảo giác thính giác: Ảo thanh có thể xảy ra liên tục hoặc từng thời gian, có loại ảo thanh b́nh phẩm, loại ảo thanh mệnh lệnh như ra lệnh cho người bệnh lao vào ô tô, nhảy xuống ao, đi trốn, đi t́m... Ảo thanh ảnh hưởng đến cảm xúc làm người bệnh lo lắng, buồn rầu, giận giữ, vui vẻ, phấn khởi... Tuỳ nội dung ảo thanh mà người bệnh có thể phản ứng bằng cách bịt tai, lắng nghe, trả lời với ảo thanh, hoặc có hành vi chạy trốn, tự sát hay tấn công người khác.

  Ảo thanh rất hay gặp trong bệnh tâm thần phân liệt và có thể là một triệu chứng khởi đầu của bệnh nầy. Ngoài ra ảo thanh c̣n gặp trong các bệnh loạn tâm thần phản ứng, loạn tâm thần trước tuổi già, loạn tâm thần do tổn thương ở năo bộ.

  Cụ thể :

-  Nguyễn văn Bảy, ngoài 60 tuổi, trưởng trại giam A30 ở miền Trung Việt Nam, lúc nào y cũng quát tháo, chửi mắng từ cán bộ đến tù nhân, như có tiếng gọi của đảng phải tỏ ra có uy quyền mới thực sự chứng tỏ ḿnh đang nắm quyền lực. Ví dụ: Tù nhân sắp hàng đi chậm, y bảo đi như rùa; tù nhân đi nhanh, y bảo: đi đâu mà như ăn cướp... đi ngay thẳng th́ y bảo: đi đâu mà như tù... không lúc nào mà y không la hét để chứng tỏ quyền lực, nhất là khi có biến cố ǵ đặc biệt như các tù nhân nỗi loạn trốn trại, lúc đó miệng y cũng không ngớt réo vang lên các từ: cùm cùm, bắn bắn...

-  Nguyễn văn Yên, ngoài 60, trưởng trại giam A20, thuộc miền Trung Việt Nam, sự đàn áp khét tiếng ở trại nầy nên được mệnh danh là “Thung lũng tử thần”, như có tiếng gọi của đảng phải tỏ ra có quyền lực, ta là đảng cầm quyền, dường như y luôn sẵn sàng có quyết định kỷ luật kiên giam đối vói các tù nhân, nên nếu có báo cáo dù đúng sai không cần biết, trước hết với y là là mang đi cùm rồi nghiên cứu sau. Hậu quả là không biết có bao nhiêu người bị giam cầm trong nhà kỷ luật và đă chết rũ ở đó v́ cái gọi là quyền lực chuyên chính vô sản trong tay y.

   Trong số các tù nhân bị giam giữ tại đây gồm Bộ trưởng, Thứ trưởng, Tỉnh trưởng, Quận trưởng, và các sĩ quan cao cấp Tướng tá... Do đó, y thường cười lớn một cách hănh diện, hai hàm răng luôn khép lại, quả là ta có tướng mệnh cao nên mới cầm tinh loại nầy.

   Tính chất đặc biệt nơi các trưởng trại giam, kể cả y, đó là không ai chịu về hưu, dù tuổi tác đă cao, người nào cũng xin được phục vụ, cống hiến tiếp v́ dường như có tiếng nói từ trong những người nầy, theo cách chung tỏ lộ, nếu ta rời khỏi quyền lực thời không c̣n ǵ nữa hết, cũng như trong quan niệm của những người vô thần: chết là hết.

-  Nguyễn văn Bàng, ngoài 50, một trưởng trại A20 khác, thuộc miền Trung Việt Nam, như có tiếng gọi của đảng trong y: ta đang cầm quyền và đang giang cánh tay quyền lực nên lúc nào y cũng quát tháo cán bộ và chửi bới tù nhân một cách thô tục, ngay cả với cán bộ nữ y cũng dùng những lời tục tĩu để la mắng mỗi khi gặp họ, những lời của y khó mà tường thuật lại.

Đặc biệt hành vi cử chỉ của các cai tù nầy đều mang tính chất bất b́nh thường, v́ người nào cũng ăn nói rất tục tằn với phụ nữ ngay cả khi có mặt của các tù nhân khác.

-  Nguyễn văn Dư, ngoài 50, phó trưởng trại A30, thuộc miền Trung Vịêt Nam, y mắc chứng ho lao, đi lại rất khó khăn, thế nhưng cũng rán mà gào lên để tỏ uy quyền, như có sự thôi thúc bên trong y: phải chứng tỏ ta có uy quyền, y luôn tạo mâu thuẩn giữa các tù nhân để cai trị, luôn gọi người nầy đến người khác để tạo sự nghi ngờ giữa các tù nhân với nhau đến giết nhau. Những tù nhân càng uy tín, có địa vị từ ngoài xă hội, y càng mời lên làm việc nhiều hơn, để tạo sự ngờ vực và xói ṃn uy tín người ấy.

-  Nguyễn văn Nhu, ngoài 50, truởng trại Z30D, thuộc miền Nam Trung bộ Việt Nam, ngoài tiếng kêu của ḷng tham quyền lực, c̣n có cái gọi của dục vọng khả giác thấp hèn trong y, mà cũng nét chung của các cán bộ trại giam về chuyện hủ hoá với phụ nữ, không một phụ nữ nào có nhan sắc chẳng may sa chân vào nơi đây mà lọt qua mắt bọn cai tù nầy. Theo lời của các tù nhân nữ, tội trốn ra nước ngoài, trong khoảng tuổi hai mươi đă kể lại, mỗi lần các cô ta muốn đi phép về nhà, họ lên ngay văn pḥng của viên giám thị trưởng rồi ôm đùi ông ta khóc sướt mướt, và cô gái nói thật rơ trước mặt nhiều tù nhân: ”cho đến khi nước mắt như ướt cả đùi ông” và thế là được đi phép. Tất nhiên khi ra khỏi văn pḥng sau đó là la lớn, quát tháo... phát ra từ chứng ảo thanh về thính giác, ít nhất cũng là sự khởi đầu của chứng loạn tâm thần phản ứng, loạn tâm thần trước tuổi già.

-  Nguyễn văn Bôi, ngoài 50, một trưởng trại khác của A20, thuộc miền Trung Việt Nam, đặc điểm y rất sợ về hưu, theo lời tâm sự của y với các tù nhân tự giác hay đi phép và tống quà cho y, v́ nó là một sự chấm hết, nhất là y có cô vợ nhỏ c̣n trẻ cư ngụ gần trại giam... Y luôn uống rượu, khuôn mặt đỏ lên như thêm quyền lực một chút vốn đă là một hung thần, cấp bậc Đại tá, lúc nào cũng hô hào, cũng la lối, và vỗ tay tự tán thưởng như biểu hiện của các triệu chứng về tâm thần, nó là thứ ảo thanh, mọi thứ ngôn từ trong y phát ra để luôn chứng tỏ rằng: ta đang trị v́.

-  Lại văn Hùng, ngoài 30 tuổi, y quát tháo và chửi mắng các tù nhân đến mức họ đặt biệt danh cho y là: ”Hùng La”. Nhưng rồi mọi sự như không có ǵ khi không có y, cả cán bộ và tù nhân không ai sợ y, nó như một làn gió tỏ uy quyền thoảng qua. Điểm đặc biệt bà vợ thứ hai luôn tỏ uy quyền hơn y ngay cả trước mặt các tù nhân, bà luôn chửi đổng khi tù xuất trại đi ngang nhà bà để chứng tỏ ta thật sự mới là người đang có quyền lực hơn chồng về mọi chuyện. Trên tay bà thường có con dao phay sắc, nhọn và có khi rượt cả viên giám thị uy quyền nầy trước mặt các tù nhân.

-Lê văn Thành, trạc 50, trưởng trại A30, thuộc miền Trung Việt Nam, y không la lớn và hô hào như các trưởng trại khác, có thể v́ gia đ́nh y là một gia đ́nh vốn đă có quyền lực trong chế độ, song khuôn mặt đầy trầm ngâm của y như luôn mang theo tiếng nói từ bên trong: hăy cho chúng ăn thật ít và bắt chúng làm thật nhiều. Thật vậy, con người y cũng thâm độc và luôn chứng tỏ đầy quyền lực như các trưởng trại khác, y thường xuyên tổ chức những buổi học tập, mít-ting và xuất hiện trong cách thế đầy quyền lực. Các tù nhân đă chứng kiến cảnh vợ lớn và vợ bé của y đánh nhau và rượt chạy vào trại giam, có lẽ v́ ít nói nên các tù nhân đă có chút cảm t́nh và giấu kỹ bà vợ nhỏ tại bệnh xá trại giam, ngày hôm sau của buổi đánh ghen, các tù nhân chứng kiến một chiếc xe con chạy vào trại giam, khi trở ra có một người đàn bà trẻ cúi sạp ḿnh xuống khi xe chạy ra khỏi cổng, tất cả những thứ ảo thanh của một thứ tâm lư thần kinh không b́nh thường: đó là ảo thanh của người vợ bé: ta có quyền yêu; ảo thanh của bà lớn: ta có quyền và được pháp luật công nhận; ảo thanh của kẻ đang cầm quyền: ta có toàn quyền. Đảng là ta. Và đảng là trên hết.Ta đă cống hiến quá nhiều rồi, nay ta cần được hưởng một chút.

-   Nguyễn văn Bố, ngoài 50 tuổi, phó trưởng trại A30, thuộc miền Trung Việt Nam, cũng ít nói hơn các trưởng trại giam khác, nhưng sự khủng bố và đàn áp các tù nhân khủng khiếp đến mức mang bí danh “Bố ráp”, trong y như có tiếng nói của sự trả thù, nên lúc nào y cũng t́m cách ghép tội, buộc tội các tù nhân vốn đă trong cảnh khốn cùng. Cụ thể ghi gặp một tù nhân nào chưa kịp chào, hay được y hỏi: -mầy đang làm ǵ đó... mà chưa kịp trả lời hoặc trả lời thiếu chữ thưa dạ... thế là liền sau đó bị gọi lên làm việc, tất nhiên bị đi nhà kỷ luật về tội thiếu nếp sống văn hoá mới không lễ phép với cán bộ.

-   Ảo giác thị giác: cũng thường gặp nhưng ít hơn ảo thanh và đôi khi kết hợp với ảo thanh. Nội dung của ảo thị rất đa dạng như thấy ngọn lửa, thấy đom đóm, thấy khói, sương mù, thấy h́nh ảnh sinh vật mờ mờ hay rơ rệt. Kích thước của sự vật có thể lớn lên, đó là ảo thị khổng lồ -macropsia; ảo thị nhỏ đi microsia; và có thể là ảo thị tự thấy ḿnh -autoscopia.

    Nội dung của ảo thị có thể làm người bệnh say mê, nh́n ngắm một cách thích thú hoặc ngơ ngác, bàng hoàng, sợ hăi... hoặc biến tha nhân thành những nỗi kinh hoàng như trong ảo giác của chính ḿnh. Ảo thị hay gặp trong các bệnh tâm thần cấp như loạn tâm thần nhiễm trùng, nhiễm độc, đôi khi trong tâm thần phân liệt, loạn thần kinh hysteria.

 

Cụ thể :

-  Nguyễn văn Tiến, cán bộ an ninh trại giam, tuổi 30, lúc nào cũng ŕnh rập, khủng bố các tù nhân như bắt gặp một tù nhân nào đứng lệch hàng ngũ, y liền doạ nạt kết tội chống đối; y thường gợi ư các tù nhân nói chuyện, song nếu có sơ hở một tí như quên thưa tŕnh, chắc chắn thế nào cũng bị qui kết về tội vi phạm nội qui và phải vào nhà kỷ luật ít ra một tuần lễ; quả thật cái nh́n của y với các tù nhân là đầy ảo giác sai lầm, thứ ảo giác lệch lạc từ tư tưởng đấu tranh giai cấp, những ai không cùng trên tảng băng giai cấp đều là kẻ thù đầy tội lỗi. Và trên cái nh́n bất b́nh thường nầy đă dẫn y đến việc nhận hối lộ của tù, bị bắt quả tang rồi bị sa thải sau đó.

-   Trần văn Tiến, cán bộ an ninh trại giam, tuổi 30, lúc nào khuôn mặt cũng hầm hầm, sát khí t́m cách hăm hại các tù nhân, trong con người y như đầy sự ảo thị, đến như hơi thở của tù cũng là tội lỗi, ví dụ như có tiếng ho hăng, tằn hắn khi xếp hàng, y cho là chống đối... v́ đó là lá phổi của kẻ thù giai cấp; như nấu nướng sớm hay muộn một chút đều bị y qui kết tội âm mưu phá hoại, có ư đồ đốt phá trại giam, thấy tù nhân sắp xếp đồ đạc gọn gàng th́ bảo là có ư trốn trại hay sao thế... c̣n lơ là một chút th́ bảo sinh hoạt không phù hợp với nếp sống văn hoá mới.

-   Nguyễn văn Tri, cán bộ an ninh trại giam, tuổi 30, lúc nào trong tay y như cũng có sẵn cây bút để ghi chép và buộc các tù nhân kư vào bản kiểm điểm, rồi vào nhà kỷ luật, y có tŕnh độ hơn các cán bộ khác và thường những ai làm việc với y, kết quả cuối cùng bao giờ cũng là lời buộc tội phải kư vào biên bản kỷ luật. Trong y dường như mang đầy ảo giác: tất cả lời nói đến hành vi của các tù nhân đều là giả dối, nó là tàn dư của tư bản bốc lột, tội lỗi, nên không thể có một âm thanh, màu sắc, huơng vị tốt từ giai cấp nầy được.

-  Thi, cán bộ an ninh trại giam, khoảng 30 tuổi, con người rất lùn nầy hầu như rất tiết kiệm lời nói, chỉ dùng đồ vật như ch́a khoá, ổ khoá, bất hoặc cái ǵ có sẵn trước mặt là y dùng để ném tù nhân đang làm việc với y. Trong y dường như có ảo giác về h́nh ảnh của các tù nhân: họ không phải là con người, là kư sinh, cặn bă xă hội... y thường dùng những lời đó để miệt thị tù nhân khi ném các đồ vật. Ngược lại y là kẻ chạy trốn nhanh nhất, kể cả chui rào khi thấy cấp trên. Và khi y cùng một số cán bộ chạy trốn như thế, họ lại cố làm như đang thanh tra pḥng giam, trấn áp tù nhân với những cặp mắt láo liên, hối hả của thứ ảo giác bất thường.

- Chính, khoảng 30 tuổi, cán bộ an ninh trại giam, có biệt danh là “Chính heo”, v́ lúc nào cũng theo xin đồ ăn của các tù nhân mới thăm nuôi và xin rất nhiều qua trật tự thi đua vơ vét về cho y. Khi xét quà thăm gặp, y thường nói: quà tốt, ngon như thế nầy th́ ngoài xă hội bốc lột biết dường nào. Thứ ảo giác sai lầm trong y đó c̣n thể hiện ở khu tập thể khi chồng của một phụ nữ là cán bộ đi công tác, y đă quan hệ bất chính và bị bắt quả tang. Song với phần lớn cán bộ ở khu tập thể nầy th́ chuyện đó không có ǵ lạ lắm. Trong cách nh́n của các tù nhân: có phải đó là cách sinh hoạt của những kẻ duy vật, hay thế giới đă đổi thay trong quan hệ t́nh dục, mà các tù nhân ở đây thường thụ án trên cả chục năm.

-  Lâm, cán bộ an ninh, trạc 30 tuổi, trong ánh mắt sâu chỉ có màu trắng và một chút con ngươi đen muốn ch́m hẳn, dường như y luôn có ảo giác quyền lực: đó là quyền giết người, y không có nụ cười, con người ốm o, ho hăng khục khặc nầy lúc nào mở miệng ra là: cùm, cùm, cho nó chết... Nét chung về ngôn từ của bọn cán bộ trẻ nầy là không có từ nào về sống c̣n, sống sót, sống với, cứu người, giúp người.v.v. Đó là những từ quả là xa lạ với chúng. Những ai đă từng qua trại Thung lũng tử thần, thật sự đều rùng ḿnh khi nhớ lại từng cán bộ an ninh ở đây, mỗi tên đồ tể ấy đều có nét riêng của sự ác khác nhau. Và người ta không ghê tởm sự hôi thúi của xác chết bằng chính mùi tanh lạnh lùng của kẻ giết người, trước cái chết của đồng loại chúng c̣n nhân danh và nói: cái chết là xứng đáng, chúng bay đáng tội chết. Giết một người đă là khác thường, giết nhiều người gọi là có chính nghĩa? Đó quả là một thứ ảo giác của triệu chứng tâm thần thời đại.

Trở về đầu trang

 

Ảo giác khứu giác:

Người bệnh ngửi thấy nhiều mùi khác nhau như mùi hôi thối của trại giam, mùi tanh của khu kỷ luật, mùi khói từ nhà bếp, mùi ghẻ lở... Mùi ngửi được thường là mùi khó chịu.

Các tù nhân dù trải qua các nhà kỷ luật từ lâu, song thứ mùi hôi tanh ấy vẫn c̣n cứ đeo đuổi họ măi: cái mùi đặc biệt của con người khi vừa ăn vừa đi cầu trong một cái bát.

Mùi hôi thối của những người làm phân xanh, lúc nào hai chân cũng đạp trên những băi phân vàng do chính họ vừa mới thải ra - hăy c̣n nóng. Thứ mùi đặc thù ấy cùng với vi trùng đủ loại như đă bám sâu vào da thịt họ, rồi từ trong phổi như luôn thở ra mùi hôi thúi.

Các tù nhân dầm ḿnh cày cấy trên đồng ruộng śnh lầy, khiến họ luôn ngửi thấy mùi śnh non bốc ra thở vào từ mũi họ.

 

Ảo giác vị giác: Ảo vị thường đi đôi với ảo khứu, người bệnh cảm thấy một vị không có trong thức ăn, nước uống và vị đó thường là đắng, chua, cay. Ảo vị và ảo khứu có thể gặp trong tâm thần phân liệt, u năo, động kinh.

Ví dụ: các tù nhân thường có vị đắng trong miệng sau những lần bị bố ráp thường xuyên trong tù, v́ mỗi lần như thế đều có sự mất mát về vật chất dù không là bao nhiêu, nhưng những cái cuối cùng thường vẫn là những cái rất lớn như các vật kỷ niệm, cái chén, cái bát, đôi đủa.v.v. kể cả những mất mát về tinh thần như đi kỷ luật kiên giam.

 

Cụ thể: mỗi lần có sự chuyển pḥng, chuyển trại, khám xét kiểm tra pḥng giam... vị đắng như tiết ra từ khứu giác của các tù nhân.

Cụ thể: mỗi khi nghe đọc giảm án hoặc tha tù, các tù nhân có cảm giác của vị chua,cay... để được tha ra khỏi các Thung lũng tử thần.

 

Ảo giác xúc giác: người bệnh có cảm giác như kim châm, điên giựt, tê lạnh, ẩm ướt, nóng bỏng, sâu bọ ḅ trên da hay các vật lạ dưới da, có thể gặp trong loạn tâm thần nhiễm trùng, nhiễm độc và tâm thần phân liệt.

 

Cụ thể: các tù nhân v́ đói quá ăn phải khoai ḿ độc bị say, họ đều kể lại lúc đầu có cảm giác tê tê cái lưỡi đến co giựt, nóng bỏng trong người và trong da họ như có loài ḅ sát đang di chuyển.

Cụ thể: các tù nhân say nấm, nếu may mắn thoát chết, họ kể về cảm giác kim châm, lạnh toát trong người và có lúc nóng ran như điện giựt, cùng với ói mửa, sốt tiêu chảy.

Cụ thể: các tù nhân bị đánh đập sau những lần hỏi cung, họ cảm thấy cơ thể như bị ră rời ra từng mảnh, da thịt bong đỏ đến bầm tím những nơi bị đánh và sự đau đớn đến tột cùng... Các thần kinh giựt lên trên năo bộ như kim chích, và có tù nhân bị thoi vào bụng nhiều quá làm rối loạn đường ruột, nên lúc nào họ cũng có cảm giác đi cầu và thực tế các tù nhân đáng thương nầy bài tiết ra ngoài thường xuyên lúc nào không hay..

 

Ảo giác nội tạng: người bệnh cảm thấy rơ ràng trong người những dị vật, những sinh vật nằm yên hay động đậy.

Ví dụ: cảm thấy có con đỉa trong tay, rắn trong bụng, nước chảy trong đầu.

 

Cụ thể: các tù nhân được điều trị bệnh với các loại thuốc phổ biến trong tù là: xuyên tâm liên, khung chỉ... Vào mỗi buổi sáng hay chiều về, nếu đi khám bệnh họ sẽ được phát một nắm thuốc cả chục viên như thế và người nào cũng có cảm giác như ợ lên đầy mùi thuốc gọi là thuốc dân tộc nầy.

Cụ thể: các tù nhân bị tra tấn, bị kiên giam lâu ngày, nên mỗi khi thời tiết thay đổi họ có cảm giác cơ thể đau nhức vô cùng, như có ai đang tra tấn từ trong máu huyết của ḿnh.

Cụ thể: những người bị tra tấn bằng sắt đun qua lửa - sắt nung đỏ, mỗi khi thời tiết thay đổi, các tù nhân nầy thường la lớn và sự đau đớn tột cùng như có ai đang tra tấn đốt cháy trên toàn thân họ... kể cả những ấn tượng về mùi thịt cháy khét cùng tiếng nổ của da thịt khi bị nướng bung lên... như đang hiện ra trước mắt họ.

Trở về đầu trang

 

Các loại ảo giác giả: ảo giác giả có thể có đủ loại như ảo giác thật.

 

Ø      Ảo thanh giả: ảo thanh giả là loại thường gặp nhất trong các ảo giác giả. Người bệnh nghe tiếng nói trong đầu không rơ là của đàn ông hay đàn bà, của người lạ hay quen. Người bệnh nghe như tư duy ḿnh vang thành tiếng và từ đó cho là tư duy bị bộc lộ hay tư duy bị đánh cắp. Tâm trạng người bệnh sắp làm ǵ, nói ǵ, đọc ǵ, nghĩ ǵ th́ tiếng nói bên trong đă nói lên trước.

Ảo thanh giả là một hội chứng của tâm thần tự động (mental automatision):

 

Cụ thể: các tử tù luôn ám ảnh về cái chết, nên mỗi khi có sự sột soạt khua ổ khoá lúc đêm khuya, họ sẽ nghĩ là ḿnh sắp bị mang ra trường bắn.

Cụ thể: các tù nhân sau khi bị thẩm vấn, bị kết cung, nhất là khi nghe cáo trạng, sau đó họ bị ám ảnh liên tục về ngày ra toà.

Cụ thể: v́ bị cưỡng bức lao động trên những cánh đồng, nên hằng đêm các tù nhân luôn bị ám ảnh về tiếng kẻng, đó là tiếng báo hiệu của sự trả thù, bị đánh đập trên hiện trường và tháo mồ hôi đến kiệt sức trong niềm sợ hăi trước sự sống c̣n.

 

Ø      Ảo thị giác: ảo thị giác cũng giống như tất cả các ảo giác giả khác. Người bệnh nói lên những h́nh ảnh giống như biểu tượng xuất hiện ngoài ư muốn, những cảnh tượng được gợi ra dưới dạng h́nh ảnh đơn độc hoặc phong phú giống như trên sân khấu.

            Ảo thị giả có thể không có h́nh thù, hoặc có h́nh thù rơ rệt, không có màu sắc hoặc có màu sắc sinh động. Hiện tượng quái khách như người lạ nhập vào cũng là một ảo thị giả.

 

            Cụ thể: hiện tượng nầy rất phổ biến trong tù do thiếu thốn vật chất, hoặc v́ sự ức chế về tinh thần, nên dẫn đến huyễn hoặc. Các tù nhân sống trong vai người khác để thoả măn những dục vọng. Đây quả là một hiện tượng của sự không ổn định về thần kinh vậy.

            Cụ thể: tù nhân Nguễn văn Lộc, luôn mặc áo quần màu đỏ và ngày nào cũng phát biểu việc gặp các chư tiên của ḿnh; tù nhân Nguyễn văn Tháo đêm nào cũng tổ chức cầu cơ và gặp thánh Năm, để rồi ban phát chức tước cho các tù nhân dựa vào việc nhân danh ông thánh. Tù nhân Nguyễn văn Tiên luôn nhân danh h́nh ảnh tiên thánh để chữa bệnh cho các tù nhân khác: thánh bảo uống thứ nầy, tiên bảo uống thứ kia mới lành bệnh.v.v .

 

Ø      Ảo giác khứu giác, vị giác, xúc giác nội tạng: khác với ảo giác thật là có tính chất làm sẵn, bị cưỡng bức người bệnh than phiền là do sự chi phối từ bên ngoài mà cảm thấy những mùi những vị khó chịu trong thức ăn, nước uống, các loài vật lạ và sâu bọ trong người.

 

            Cụ thể: các tù nhân thường có cảm giác môi trường trại giam nào cũng nhơ nhớp, đầy mùi tanh hôi. Thế nhưng họ quên mất rằng nơi pḥng làm việc của các Giám thị trại giam, nó không khác ǵ cơ ngơi sang trọng của các lănh chúa thời hiện đại.                                Cụ thể: về phía cán bộ trại giam luôn có thành kiến: tù là dơ dáy, tội lỗi, xấu xa... Thật vậy, môi trường trại giam nào cũng rất ẩm thấp, không đủ điều kiện vệ sinh, nhưng các tù nhân bao giờ cũng cố gắng vượt qua những ǵ bẩn thỉu nhất để sinh tồn.

            Cụ thể: các tù nhân th́ cho rằng cán bộ trại giam xuất thân từ rừng rú, loài quỷ đỏ, nên lúc nào cũng ăn nói thô tục, quan hệ t́nh dục bừa băi, các điều trên họ chứng kiến hằng ngày... nó như một thứ man dă, xấu xa vô cùng dưới mắt các tù nhân: những kẻ gọi là đi chuyển biến người khác đáng được cần phải cải tạo.

 

Ø      Ảo giác vận động: người bệnh có cảm giác là những động tác nào đó không phải do ư muốn của ḿnh mà do bị cưỡng bức, bị chi phối từ bên ngoài. Họ đang ngồi yên nhưng có cảm giác như ai đó làm tay chân họ vận động.

 

            Cụ thể: tù nhân Nguyễn văn Lô, một tù nhân đă ngoài 60, đứng đầu một tổ chức chống cộng, gia đ́nh thăm nuôi thường xuyên. Thế nhưng trong một lần kiểm điểm về tội ăn cắp thức ăn của các tù nhân khác, ông bảo: lúc đó như có ai kéo tay và bắt ông làm như thế. Nói đến đó xong ông ngă xuống và ngất xỉu.

            Cụ thể: tù nhân Nguyễn văn Lân, nguyên là một sĩ quan, trong cuộc sống hằng ngày rất chuẩn mực, song thường lén lút vào nhà kho ăn cắp gạo và nhai sống tại chỗ. Khi bị kiểm điểm, tù nhân nầy bảo: có ai đó thường xuyên thúc dục tôi vào nhà kho và bắt tôi phải làm như thế, lúc đó tôi không c̣n biết ḿnh là ai nữa.

            Cụ thể: Trưởng trại Nguyễn văn Bảy, vào lúc giữa đêm khuya thường chạy như tập thể dục xung quanh khắp trại giam, có khi chỉ mặc quần đùi áo cánh, song ông bảo: như có ai cảnh giác ông sắp có tù nhân trốn trại và chúng đang ẩn nấp đâu đây.

 

Ø     Ảo giác giả qua ngôn ngữ: do sự chi phối ở bên ngoài, buộc lưỡi người bệnh phải cử động và cơ quan phát âm của họ phát ra những câu ngoài ư muốn của họ .

 

   Cụ thể: Trưởng trại:Nguyễn văn Bảy

                          Trưởng trại:Nguyễn văn  Yên

                          Trưởng trại:Nguyễn văn  Bàng

                          Trưởng trại Nguyễn văn Nhu

                           Phó Trưởng trại:Lại văn Hùng

            Các Trưởng trại trên miệng luôn lầm bầm, nhiều lúc họ nói những câu để chứng tỏ uy quyền mà có thể ch́nh họ cũng không hiểu nội dung của câu nói mang ư nghĩa ǵ như:

            -Ta thắng địch thua, Đế quốc Mỹ bỏ chạy... ( trong khi câu chuyện ấy đă qua cả chục năm rồi ).

            -Năm nay có nhiều sự kiện lớn... (lúc nào, năm nào cũng với những câu nói đó và với hàm ư sẽ cho ăn nhiều).

            -Chủ nghĩa Mác Lênin bách chiến, bách thắng muôn năm... (trong khi cộng sản Liên xô và Đông âu đă bị sụp đổ).

            -Thậm chí những lời chửi thề rất tục tĩu luôn lập lại trên môi miệng của các cán bộ và giám thị.

 

            Cụ thể các tù nhân:

            -Nguyễn văn Lịch

            -Nguyễn văn Chức

            -Nguyễn  Lên

            -Nguyễn văn Đệ

            -Nguyễn văn Lượng

 

            Các tù nhân trên khi gặp ai, họ cũng hay nói những chuyện vu vơ để làm quà, thường nội dung câu chuyện không đâu vào đâu, tiền hậu bất nhất. Có người lại chửi thề liên tục mà có khi họ cũng biết tại sao lại thích dùng những từ thô tục như thế thường xuyên là điều không tốt.

 

Ø      Ảo giác lúc giả thức, giả ngủ (hypnagogique hallucination).

            Là những phát minh không theo ư muốn xuất hiện trước khi ngủ. Những h́nh ảnh nầy hết sức đa dạng: những trang hoàng rực rỡ, những sinh vật kỳ quái, những phong cảnh... V́ những h́nh ảnh thuộc loại nầy không giống các đối tượng thực tế, nên chúng gần gũi với các ảo giác giả hơn.

 

            Cụ thể: các tù nhân bị kiên giam, hay nằm kỷ luật do mất ngủ, có khi ngủ ban ngày và thức suốt đêm, nên hầu hết mắc chứng nầy, cũng có khi từ những hư ảo, họ xây nên những toà lâu đài tưởng tượng, hay từ những phác họa tưởng tượng của tư duy đến hoang tưởng, rồi thiếp đi trong giấc ngủ.

            Cụ thể: các giáo chủ tự xưng đều có sự ảo giác nầy trong giấc ngủ, v́ họ thường kể lại như sau: đêm qua câu chuyện đă xảy ra như thế nầy, thế khác... mà thường là những cuộc gặp với những nhân vật thuộc thế giới bên kia...

 

Ø      Ảo giác chức năng (functional hallucination):

            Chỉ xuất hiện khi có kích thích thực tế bên ngoài và tồn tại song song với kích thích đó cho đến khi nó hết tác động.

            Ví dụ:

            -Đồng thời với tiếng “Ban đến”, nghĩa là phó, trưởng trại giam đang đến và nó cũng đồng thời với những tiếng chửi rủa sắp xảy ra.

            -Đồng thời với tiếng kẻng điểm danh là tiếng quát mắng, hối thúc, chuẩn bị vào chuồng (tức vào nhà giam riêng và thật kín lại vào ban đêm).

            -Đồng thời với thông báo có lệnh họp, nghĩa là sẽ có kiểm điểm, xâu xé nhau.

 

            Loại ảo thanh chức năng nầy chỉ mất đi khi những tiếng động thật ngừng lại. Điểm xuất phát của ảo thanh chức năng cũng là điểm xuất phát của âm thanh bên ngoài. Loại ảo giác nầy phân biệt với ảo giác thật là chỗ chúng chỉ xuất hiện khi có tác nhân kích thích thực tế và cũng khác với ảo tưởng ở chỗ sự phản ảnh đối tượng có thật trong ảo giác chức năng không hoà lẫn với các biểu tượng bệnh tật vốn đă tồn tại song song với chúng trong tri giác.

 

Ø      Cảm giác biến h́nh:(metamorphopsia)

Là cảm giác sai lầm về độ lớn h́nh dáng các vật, các khoảng cách trong không gian. Những vật chung quanh đối với người bệnh h́nh như thu nhỏ lại -micropsia, hoặc ngược lại to ra, đôi khi có kích thích khổng lồ -macropsia. Rối loạn nầy thường kèm theo loạn cảm giác về khoảng cách -porropsia. Khoảng cách dường như rút ngắn, mọi vật xích lại gần nhau, hoặc khoảng cách dài ra, vật cách xa nhau, những con đường nhỏ trong trại giam như dài vô tận, các toà nhà cao lên đến chọc trời.

Cảm giác biến h́nh khác với ảo giác v́ ở đây chỉ là một sự phản ảnh lệch lạc các sự vật có thật trong thực tế, cũng khác với ảo tưởng v́ bản chất của đối tượng không bị biến đổi hoàn toàn mà chỉ thay đổi ở một vài khía cạnh thuộc tính mà thôi.

 

Ø      Rối loạn sơ đồ thân thể (double of body schema):

Là tri giác sai lầm về h́nh thể và kích thước của thân thể ḿnh. Rối loạn nầy biểu hiện ở chỗ tự nhiên người bệnh có cảm giác đau khổ là thân thể ḿnh lớn lên và dài ra, không nằm vừa giường, cao tới trần nhà hay ngược lại bé nhỏ đi và ngắn lại, đôi khi cảm thấy tứ chi xê dịch tách ra khỏi cơ thể, hoặc thân thể ḿnh bị chia làm đôi.

Rối loạn sơ đồ thân thể thường xuất hiện với cảm giác biến h́nh. Có thể gặp trong loạn tâm thần do tổn thương thực thể năo bộ, bệnh tâm thần phân liệt cũng như trong các bệnh tâm thần thực nghiệm.

 

Cụ thể: các tù nhân mắc chứng xơ gan cổ trướng, hay mắc chứng “sưng đầu voi” ở chân, họ thường có sự rối loạn nầy. Họ hay kể về các giấc mơ trong cơ thể ḿnh có sự biến dạng kỳ lạ.

Cụ thể: các tù nhân trốn trại khi bị bắt, họ bị đánh đập đến gần chết, những tù nhân nào c̣n sống sót thường hay mang chứng biến h́nh về cơ thể ḿnh: Họ có cảm giác chung cơ thể họ đă bị chia ra thành từng mảnh, rời xa khắp tứ chi, và thường xuyên cảm thấy đau đớn vô cùng.

-Tù nhân Trần văn Hùng, án mười lăm năm, tuổi gần ba mươi, sau một thời gian lao cải anh bị xơ gan, bụng anh bị to lên, da vàng, mắt vàng... anh hay kể lại những giấc mơ kỳ lạ trong đêm, cũng như những lúc anh thiếp đi trong mệt mỏi: nào cơ thể bị băm ra từng mảnh, bị tháo ra từng phần... cả cái đầu cũng bị rụng xuống.

Trở về đầu trang

  

RỐI LOẠN CẢM XÚC

 

Cảm xúc là một quá tŕnh hoạt động tâm thần biểu hiện thái độ con người đối với các kích thích bên ngoài, cũng như bên trong cơ thể, là thái độ của con người đối với sự diễn biến của thực tế, của môi trường sống.

Cảm xúc gắn liền với các hoạt động tâm thần khác như tri giác, tư duy... nó bắt nguồn từ các kích thích trên các giác quan và biểu hiện các đặc điểm nhân cách cùng môi trường xă hội.

Cơ sở giải phẩu của cảm xúc phần lớn ở vùng dưới vỏ năo, chủ yếu là vùng gian năo (cảm xúc thấp) và một phần ở vỏ năo (cảm xúc cao).

Cơ chế sinh lư cảm xúc là cơ chế thần kinh. C̣n các biến đổi thể dịch trong quá tŕnh cảm xúc chỉ là những khâu trung gian. Mỗi cảm xúc đều có biến đổi trong cơ thể: mạch máu co thắt lại hay giăn nở ra, đường huyết tăng hay giảm, tim đập nhanh hay chậm.

Có nhiều cách phân loại cảm xúc: cảm xúc cao và cảm xúc thấp, cảm xúc âm tính và dương tính. Cảm xúc chia theo cường độ: khí sắc, ham thích, xung cảm.

 

1. Các triệu chứng giảm cảm xúc và mất cảm xúc:

 

            Nói đến cảm xúc cần đề cập đến khái niệm về ngưỡng hưng phấn. Khi ngưỡng hưng phấn cao th́ kích thích có cường độ mạnh mới gây được phản ứng cảm xúc nhẹ hoặc có khi không gây được phản ứng cảm xúc nào. Ngược lại khi ngưỡng hưng phấn thấp th́ kích thích có cường độ nhẹ hoặc thông thường lại có thể gây những phản ứng cảm xúc mạnh mẽ.

 

            a-Giảm khí sắc (hypothymia): là khí sắc buồn rầu, ủ rũ và là thành phần chủ yếu trong hội chứng trầm cảm (depression).

 

            -Trầm cảm: là một tâm trạng buồn chán, một ấn tượng ảm đạm mơ hồ rằng thân thể đă đổi khác, như bị bỏ rơi, như mất mát một cái ǵ, không c̣n tự tin ở ḿnh nữa. Ngoài ra, trầm cảm nặng có thể đưa đến tự sát.

 

            Cụ thể: các tù nhân bị giam giữ lâu ngày trở nên lầm ĺ, ít nói. Họ nh́n lại thân thể ḿnh trở nên gầy ṃn, già hẳn đi sau một thời gian ngắn bị giam giữ... trọng lượng cũng sút đi thấy rơ nơi mỗi người, nhất là các tù nhân bị kiên giam thường không nh́n thấy cơ thân của ḿnh nữa.

            -H́nh ảnh Linh mục Nguyễn văn Vàng ngoài sáu mươi, sau ba năm nằm kiên giam thân h́nh co rút lại như một em bé lên mười với da bọc xương, những lúc bệnh nặng, trong cơn hấp hối, cụ được ra nằm bệnh xá và hai tay hay mân mê cơ thể ḿnh, cũng như cúi người lên xuống nh́n đôi chân co rút teo hẳn lại... đôi mắt trầm buồn không nói ǵ cả.

            -H́nh ảnh Linh mục Nguyễn huy Chương ngoài sáu mươi tuổi, sau hai năm kiên giam, thân h́nh phù lên, mặt mũi tay chân đều sưng to, khi bệnh quá nặng được chuyển đến bệnh xá, gặp ai ông cũng chỉ vào đôi chân sưng to của ḿnh, đôi mắt như trầm lắng cô đọng lại một cái ǵ đó mà người tù bất hạnh nầy không nói hết được.

 

            Cụ thể: các tù nhân kém may mắn, không được gia đ́nh thăm thường xuyên hoặc mất liên lạc với người thân cũng thường mang chứng nầy:

            -Tù nhân Nguyễn văn Nghi, tuổi trên ba mươi, mất liên lạc với gia đ́nh, hay than văn, buồn rầu và miệng luôn nói về chuyện tự sát, tự tử nhiều lần nhưng bị phát hiện, nên không thành. Ánh mắt thường nh́n lên như nh́n vào một cơi xa xăm trầm buồn.

            -Tù nhân Lê Xẹt trên ba mươi tuổi, sau nhiều năm bị giam kín rồi lao động khổ sai, cơ thể anh đầy ghẻ chốc nhất là lác... anh hay ngồi một ḿnh và xót xa cho tấm thân của ḿnh, đôi mắt nh́n xuống trầm buồn gỡ từng mảng tế bào chết rời khỏi cơ thể.

 

            Cụ thể: các lănh tụ khi vào tù, một số không chịu nổi cuộc sống cơ cực, nên dần dần thoái hoá khiến các tù nhân vốn tin tưởng vào họ trước đây trở nên mất niềm tin. Họ thường trở nên ít nói, sống co rút, thầm lặng.

            -Tù nhân Trần ngọc Bích, tuổi ngoài năm mươi thất vọng v́ người đứng đầu trong tổ chức của ḿnh tự phong là Trung tướng, nhưng vào tù mới biết rơ vị chỉ huy đó chỉ là một sĩ quan Trung uư, và vào tù sợ hăi đến cộng tác với các cai tù. Tù nhân nầy trở nên trầm uất, thầm lặng, ít nói. Dường như ông ta cũng không than văn với ai, chỉ “ngậm bồ ḥn làm ngọt”.

            -Tù nhân Nguyễn khắc Chính, một Luật sư ngoài năm mươi tuổi, đă gọi cán bộ quản giáo là Thầy, khiến nhiều tù rất thất vọng về vị chính khách trí thức nầy. Trước hiện tượng bất thường nầy họ trở nên trầm mặc.

            -Cảm xúc bàng quan: người bệnh giảm cảm xúc, ít biểu hiện cảm xúc qua nét mặt, ít hoạt động và trong sinh hoạt nhiều khi có sự b́nh thản đến đáng sợ. Các tù nhân loại nầy có thể coi thường cảnh lao lư, tới đâu hay tới đó, thờ ơ với tất cả, thường là người có kiểu thần kinh cân bằng chậm. Cai tù bảo sao làm vậy, không phấn đấu tốt, cũng không sốt sắng. Họ quan niệm: nước chảy, bèo trôi, nước sông công tù. Tất cả rồi sẽ qua đi, hết nắng đến mưa. Do đó lơ là với hoàn cảnh, ít kêu ca phàn nàn mà âm thầm chịu đựng:

 

        Họ khó nảy sinh t́nh cảm nhưng sâu sắc.

        Họ sống với kỷ niệm cũ.

        Họ khó làm quen, nhưng rất gắn bó.

        Tâm trạng ổn định.

        Họ say sưa trong vấn đề ǵ đó, các tù nhân loại nầy thường hay t́m cho ḿnh một công việc tay chân như điêu khắc, làm gậy, vật kỷ niệm.v.v. Họ làm một cách chăm chú cần cù.

 

            Cụ thể:

            -Tù nhân Lê Mại, bảy mươi tuổi, trước cái chết v́ chứng tim mạch, hai bàn chân sưng húp trong một thời gian lâu dài, nhưng cụ rất b́nh thản đến đáng sợ cho đến phút ra đi.

            -Tù nhân Phạm văn Dụ, ngoài sáu mươi tuổi, trước cái chết v́ chứng tim mạch, lao phổi, thân h́nh co rút lại với những cơn ho tuyệt vọng, nhưng ông vẫn giữ được b́nh tĩnh, xem cái chết nhẹ như tơ hồng.

 

            Từ thái độ bàng quang đến phản ứng nội tâm b́nh tĩnh chờ đợi:

        Họ luôn phản ứng đứng đắn, nghiêm túc chờ đợi, tiếp thu có nghiên cứu, suy xét ư kiến của cai tù, không phản ứng lung tung, nói năng đúng chỗ, và đă có nhận xét th́ khó thay đổi, trầm lặng, khó tính. Đối với loại nầy, nếu người đi chuyển biến có uy tín sẽ tác động tốt đến họ, tâm lư của họ sẽ được khôi phục sau những cú sốc đầu tiên không tránh khỏi của bất cứ ai khi mới vào tù. Nhưng thường bọn cai tù thường hớ hênh, kiêu ngạo, những “thiên lôi” vô học nầy vốn tiền hậu bất nhất, nên sẽ rất khó khôi phục niềm tin để chuyển hoá.

 

            Cụ thể::

            -Huỳnh văn Thẩm, tuổi ba mươi, mặc dù bị án tử h́nh do trốn trại bị bắt trở lại, nhưng anh rất b́nh tĩnh, thản nhiên v́ như thường xuyên có tiếng phát ra từ pḥng kỷ luật nơi anh đang bị giam giữ: ”Ḿnh làm ḿnh chịu, không xin ai hết...” Người tù bất hạnh nầy bị bắn không lâu sau khi phiên toà lưu động mở ra và xét xử ngay tại trại giam.

            -Trần văn Hoan, tuổi ba mươi, án tử h́nh v́ đào thoát bị bắt lại, trong thời gian chờ đợi ra pháp trường anh luôn ca hát, vui vẻ... Thường xuyên có tiếng vọng ra từ pḥng kỷ luật nơi anh đang bị cùm: ”Chế độ toàn trị là thế thôi, nếu ḿnh không thoát được th́ chết....” Trước đó anh là tù nhân vượt biển bị bắt lại với án chung thân.

 

            -Trầm nhược và tự sát: Trầm nhược thường xuất hiện sau những thất bại liên tiếp, v́ do kỳ vọng quá cao ”tham vọng lớn, mất mát lớn”. Trong môi trường tù, các tham vọng nầy thường tự cá nhân đặt lên vai ḿnh.

            Trầm nhược cũng có thể là một phản ứng đối với sự mất mát thực thể hay huyễn tưởng do xa cách người thân, mất t́nh yêu hay mất ḷng tự trọng. Các tù nhân mắc chứng trầm nhược thường buồn rầu, ủ rũ, không tiếp xúc với ai, chán nản mệt nhọc.

 

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn văn Huệ trên bốn mươi tuổi, án hai mươi năm với những hoài vọng bị thất bại, bị bắn trọng thương lúc bị bắt, chân bị găy dù đă lành nhưng mănh đạn hăy c̣n bên trong, sự đau nhức thường xuyên cùng nhiều thất bại liên tiếp khiến anh trở nên trầm nhược, anh treo cổ tự sát nhiều lần nhưng được các bạn tù phát hiện kịp thời.

            -Tù nhân Nguyễn văn B́nh, tuổi ba mươi, án chung thân, kỳ vọng về một nền dân chủ thật sự và các công dân được hưởng những quyền cơ bản của con người, hầu như lúc nào anh cũng đăm chiêu về những vấn đề nầy, thường trầm ngâm ít nói, ánh mắt như để lại qua những ai đă từng sống chung với anh: nó như mở to hơn trong khát vọng về tự do, dân chủ và dân quyền, lá thư cuối cùng khi nhảy vào chảo nước sôi anh viết về niềm mong đợi ấy.

 

            -Vô cảm (apathia): là sự thờ ơ, dững dưng với tất cả những việc ǵ xảy ra chung quanh, hờ hững với hoàn cảnh của ḿnh, không có ǵ gây được thích thú và phản ứng cảm xúc. Tù nhân thụ động lờ đờ, không thiết tha ǵ cả, thích nằm ĺ tại chỗ nếu có thể, hoặc ngồi lánh xa một góc nào đó như thường gặp trong tâm thần phân liệt

 

        Sự vô cảm đến không c̣n cá tính: Cuộc sống mất tự do của các tù nhân, nó hạn chế mọi thứ đến mức tối đa như bữa cơm hằng ngày vắt lại bằng quả trứng vịt, với thức ăn là nước muối khiến các yếu tố bẩm sinh cũng như di truyền tàn lụi. ”Hăy cho chúng ăn thật ít và bắt chúng làm thật nhiều”.

 

Cụ thể: Có một viên Trung tá khi vào tù đến bữa cơm đă yêu cầu: phải dùng cân tiểu ly để chia cơm mới công b́nh, thật vậy các buổi chia cơm thường xảy ra những vụ đánh cải chửi nhau... dù đây đó có người từng là các viên chức trước đây.

-Tù nhân Nguyễn văn Hành, án trên mười năm, trên bốn mươi tuổi, hầu như mất liên lạc hoàn toàn với gia đ́nh, có lúc chính anh lại nhặt chính lá thư của ḿnh gửi về gia đ́nh bị vứt ngay nơi anh làm vệ sinh quanh pḥng giám thị, sự chịu đựng trong những điều kiện quá khắc nghiệt của trại giam, khiến anh trở nên bất b́nh thường thấy rơ như miệng lúc nào cũng lầm bầm chửi bới chế độ: toàn là một lũ cướp, tham ô nhũng lạm, vốn là phần lớn phạm tội giết người rồi kéo vào chiến khu để dung thân và nay nắm chính quyền chứng nào tật nấy, tao rành tụi bay quá mà.v.v. Tù nhân nầy vốn là một sĩ quan trong chiến khu về sau chống lại chế độ độc tài.

-Tù nhân Nguyễn văn Hạnh, án hai mươi năm, tuổi hai mươi, mặc dù c̣n trẻ nhưng chỉ c̣n da bọc xương, sống nhờ vào các tù nhân khác, hầu như suốt ngày không nói tiếng nào, ai cho thứ ǵ th́ mừng, ai nhờ việc ǵ th́ giúp, kể các cai tù sai đâu chạy đó, mọi sự như phó mặc cho số phận.

 

        Đàng khác, do phần lớn các quan hệ gia đ́nh bị cắt đứt, như thư tín bị hạn chế nếu không nói bị cấm, các tù nhân thường bắt gặp thư của chính họ hoặc từ gia đ́nh gửi đến bị xé vứt lung tung trên đường đến hiện trường lao động. Ngoài ra do địa điểm của các nơi giam giữ quá hiểm trở, nên việc thăm gặp của người thân rất khó khăn. Có gia đ́nh khi trở về mang theo bệnh tật do tai nạn, hoặc suưt mất mạng sốt rét rừng... Việc quan hệ gần gũi giữa các tù nhân cũng bị cấm đoán, nhiều tù nhân bị gọi đích danh và cấm hẳn việc quan hệ với mọi người.

 

            Cụ thể: có giai đoạn tại trại Thung lũng tử thần chỉ cho phép thăm gặp ba tháng một lần và chỉ được nhận 3 kg quà tiếp tế từ gia đ́nh.

            -Tù nhân Nguyễn văn Hượt, tuổi trên ba mươi, án mười lăm năm, hầu như không có sự liên lạc với gia đ́nh, cơ thể anh gần như khô đét lại v́ phải lao động khổ sai với vét cơm cùng nước muối và rau trời. Anh trở nên trầm mặc ít nói, phó mặt theo tiếng kẻng dục lên th́ đi, gọi về th́ nằm phờ ra đó.

            -Tù nhân Trần văn Trinh, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, mỗi năm gia đ́nh mới đến thăm, thêm chứng lao phổi và suyễn, khiến anh trở nên ngày càng mệt mỏi, yếu dần, làm biếng nói năng, hầu như bàng quang với mọi thứ chung quanh.

 

        Chính những yếu tố vật chất và tinh thần như thế khiến các tù nhân biến đổi dần đến không c̣n cá tính. Họ là những cá nhân c̣n đó nhưng vô hồn, mà nét chung về thể trạng của họ chỉ c̣n da bọc xương, hai má hóp vào, mắt lơm sâu, nước da xanh xao người nào cũng tái mét. Họ trở thành những hữu thể đặc thù trong sự triệt hạ của con người chứ không phải nhằm chữa trị con người. Và “vật cùng tất biến” như quan niệm triết lư Á đông. Các hữu thể đó được cải tạo dần đến mức không c̣n nhận ra chính ḿnh rồi đi thật xa măi măi đến cái chết.

 

            Cụ thể::

            -Tù nhân Nguyễn văn Vàng, Linh mục, sau ba năm kiên giam chỉ c̣n da bọc xương, cơ thân teo lại gọi là rọm người, trông thấy kinh hoàng hơn cả người Somali sắp chết đói. Hữu thể đó đă được cải tạo thành quái vật người trong nền văn hoá vật người.

            -Tù nhân Lê văn Chờ, trên sáu mươi tuổi, án hai mươi năm, gia đ́nh hầu như rất khó khăn, nên bữa ăn chỉ có nước muối là chính cùng vét cơm nhỏ, áp huyết cao ngày càng cao hơn khiến ông đột qụy và chết ngay sau giờ lao động trở về.

 

        Các yếu tố di truyền như thông minh, bén nhạy, sáng tạo trong sinh hoạt hằng ngày chỉ c̣n ở mức thấp nhất.

 

            Cụ thể: phần lớn các tù nhân không c̣n năng lực để tư duy v́ thức ăn chính yếu hằng ngày là khoai ḿ và lá ḿ làm dưa, nếu không muốn nói là tiêm chất độc dần vào cơ thể..

            -Tù nhân Thái văn Lương, tuổi hai mươi, án trên mười năm, chỉ c̣n biết lo cải thiện, anh hay nói: bây giờ chỉ có ăn, ăn để tồn tại c̣n mọi chuyện sẽ tính sau.

            -Tù nhân Nguyễn văn Nhuệ, tuổi bốn mươi, án trên mười năm, hay phát biểu: bây giờ không c̣n phải suy nghĩ ǵ nữa, chỉ mong sao cho qua ngày v́ đă kiệt sức lắm rồi.

 

        Việc giáo dục chỉ là phương tiện tuyên truyền lập đi, lập lại theo một khuôn mẫu không có ǵ mới, nhất là giữa lư thuyết và thực tế là sự khác biệt vô cùng. Nhưng thắng lợi cuối cùng vẫn luôn thuộc về kẻ đi triệt hạ con người như họ hô hào: Tất cả chỉ nhằm mục đích tẩy năo.

 

            Cụ thể:

            -Trưởng trại Nguyễn văn Bảy, khi thăm các tù trọng án và bảo: các anh hăy bảo trọng... Nhưng y vừa rời khỏi pḥng giam, các cán bộ của y đă mang cả giày ủng nhảy lên người các tù nhân đang bị cùm và đánh đá túi bụi khiến ai cũng một phen kinh hoàng và xảy ra lập đi lập lại như vậy thường xuyên. Đó là sự giáo dục, an ủi của những người cộng sản.

            -Các buổi học tập chính trị thường xuyên được tổ chức như nào hiến pháp đều có ghi đầy đủ việc tôn trọng các quyền cơ bản của con người: tự do tôn giáo, hội họp, thông tin... Nhưng cụ thể khi gặp các tăng ni, tu sĩ đang bị tù, các trưởng trại đều thường gọi là “thằng”, như trưởng trại Bảy khi gặp các Nhà sư c̣n gọi “mày”. Nguyên văn: “Nầy, thầy chùa kia... mày học lớp mấy, ngày xưa tao cũng học Tam tự kinh... “Trong khi chính y vẫn thường xuyên tuyên bố trước toàn trại: đảng ta rất tôn trọng tự do tôn giáo... Các tù nhân chỉ biết cúi đầu thầm lặng: những người cộng sản nói vậy, nhưng không phải zậy !

 

        Con đường thật sự mở ra trong việc chuyển biến con người của chế độ chuyên chế toàn trị không phải là mở đường để tạo ra một khởi đầu mới mà nó là cái chết. Đó là sự hoàn tất tốt nhất trong việc trả thù. Sự khốn cùng của triết lư -đó là điều quan trọng không phải làm cho con người được sống và sự sống lại, mà chết đi, chết lại nhiều lần và rồi chết thật

 

            Cụ thể:

            -Một tù nhân rất trẻ, chưa ngoài ba mươi, đă chết v́ bệnh chó dại ngay tại trại giam, nguyên do chính là giám thị trại giam không ra ngoài điều trị, họ buộc phải điều trị bằng thuốc nam do một Nhà sư phụ trách về Đông y ở đây. Vị Đại đức nầy đứng ra lănh trách nhiệm và sau nhiều than thuốc nam do ông chế... Song đúng ba tháng mười ngày th́ tù nhân Nguyễn văn Thụ trào nước bọt, tru tréo như chó rồi chết. Tù nhân đáng thương nầy án phạt 11 năm, can tội chống chế độ.

            -Tù nhân Nguyễn văn Luân, án chung thân, vị Linh mục nầy chỉ bị một mụt nhọt nhỏ ở lưng, thế nhưng không được chữa trị khiến mụt nhọt lan dần cho đến lúc nhiễm trùng và chết. Khi sắp chết, Người được ra khỏi kiên giam, vào bệnh xá trại giam, vị Linh mục vẫn b́nh thản lạc quan nhắn nhủ những người Việt Nam hăy v́ c̣n người, và luôn đấu tranh cho quyền con người.

 

        Những h́nh thức lao động khổ sai để trả thù như đập đá, ngâm ḿnh trong śnh lầy suốt tám tiếng mỗi ngày, chưa kể việc tranh thủ làm đêm. Các tù nhân thường phải đi sớm về muộn, những hôm nào có sương mù th́ được đi trễ v́ bọn cai tù sợ xảy ra trốn trại, rồi nhiều buổi chiều tối cho đến buổi chiều cuối cùng trúng phải nơi người tù bất hạnh nào đó thật là bi đát trong tiếng kêu tuyệt vọng: thôi chết cho khoẻ tấm thân hơn là sống với cái ác đến bi đát quá.

 

            Cụ thể:

            -Tù nhân Trần xuân Hoàn, án tử h́nh, nguyên sĩ quan công an của chế độ cộng sản, luôn nhắn nhủ các tù nhân khác về bản chất giam giữ trong chế độ chuyên chính vô sản: -Đến đây thời ở lại đây... bao giờ bén rễ xanh cây mới về.

            -Tù nhân Linh mục Phong, ngoài năm mươi tuổi, lao động đến kiệt sức do ngâm ḿnh suốt ngày trên ruộng śnh, lâu ngày bị sưng phổi, ho nhiều từng cơn rồi ói ra nước vàng và chết tại trại giam. Đặc biệt vị Linh mục nầy vẫn ung dung không van xin để nghỉ bịnh, Người vẫn đi làm khổ sai cho đến khi gục ngă. Đặc biệt hơn nữa, lúc chết đi Người được các cán bộ cộng sản chôn một nơi riêng cao ráo hơn và chôn sâu để chứng tỏ Nhà nước tôn trọng tôn giáo... V́ họ biết chắc thế nào cũng có ngày Toà Giám mục lên thăm.

 

        Mất cảm giác tâm thần (psychicalanesthesia): có loại mất cảm giác tâm thần, mất mọi phản ứng cảm xúc, nhưng nếu môi trường được thay đổi th́ vẫn tiếp xúc được. Có loại mất hết phản ứng cảm xúc như trên nhưng lại c̣n cảm xúc đau khổ về hiện tượng mất cảm xúc của ḿnh. Triệu chứng nầy gọi là mất cảm xúc tâm thần đau khổ (suffering psychical anesthesia). Nhiều khi v́ quá đau khổ mà người bệnh có hành vi tự sát. Triệu chứng nầy gặp trong loạn tâm thần hưng trầm cảm, trầm cảm thoái triển, tâm thần phân liệt.

 

            Cụ thể:

            -Tù nhân Trần văn Cẩn án trên mười lăm năm, tuổi ngoài bốn mươi, do bị cùm lâu ngày trong nhà kỷ luật nên nửa thân người hầu như bị mất cảm giác, lúc ra khỏi kiên giam anh phải tập đứng ngồi ngay tại chỗ thật khó khăn, nhiều khi sự cử động làm toàn thân đau đớn khiến anh có lúc than văn muốn chết cho khoẻ.

            -Tù nhân Nguyễn văn Phương, án chung thân, tuổi ba mươi, một chân mất cảm giác dần do bị bắn lúc bị bắt và mảnh đạn vẫn c̣n. Sự đau đớn cùng nỗi tiếc rẽ về cái chân đang bị chết dần do khộng được chữa trị của ḿnh... khiến anh có lúc nghĩ đến việc kết liễu cuộc đời.

Trở về đầu trang

                                                             

            2) Các triệu chứng tăng cảm xúc:

 

            -Cảm xúc không ổn định (emotion labile): người bệnh dễ chuyển từ cảm xúc nầy đến cảm xúc khác một cách nhanh chóng, từ vui chuyển sang buồn, từ khóc sang cười, từ lạc quan sang bi quan. Thường gặp trong các bệnh có tổn thương thực thể năo bộ, các trạng thái suy nhược.

            Cụ thể::

            -Tù nhân Nguyễn thanh Liêm án mười lăm năm, tuổi trên ba mươi, lúc lạc quan lúc thật bi quan, rất hiền hoà nhưng bất chợt nổi cơn rất hung dữ, tù nhân nầy bị tra tấn nhiều trong lúc chấp cung, cuộc sống khó khăn hầu như gia đ́nh ít thăm viếng.

            -Tù nhân Nguyễn văn Sinh, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, hầu như không có gia đ́nh thăm viếng, có lúc thật vui vẻ, song có lúc lên cơn thật hung dữ sẽ gây gổ với bất cứ ai nếu có sự xích mích với anh ta. Người ta được biết sau khi được tha khỏi trại giam, anh đă dùng súng gây với công an địa phương và bị bắn chết ngay tại chỗ.

            -Cảm xúc say đắm (etasy): người bệnh trước một kích thích của hoàn cảnh nào đó mà ḿnh thích thú có cảm xúc say đắm, tức là một trạng thái tăng cảm xúc mạnh có tính chất nhất thời. Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng vừa có ư nghĩa quan trọng trong đời sống, vừa có khả năng đem lại cho cá nhân một sự hấp dẫn về mặt t́nh cảm. Khi hứng thú con người có ư thức đầy đủ, có cảm xúc, cảm hứng đặc biệt với đối tượng.

            Cụ thể: nhà giam, nơi con người bị cưỡng chế, trấn áp, nên các tù nhân không c̣n hứng thú trong công việc bị áp đặt, hoặc có thái độ ngược lại và lấy đó làm thích thú. Các hành động phá hoại ngầm trở thành yếu tính của các tù nhân. Chính họ lấy làm hứng thú trong cuộc đấu tranh bất bạo động nầy để đối kháng lại với các cai tù. Sự hứng thú giúp con người vượt qua những khó khăn trở ngại, nó tăng sức đề kháng về nhiều mặt và kích thích con người hoạt động, hy vọng.

            -Tù nhân Trần minh Tuấn, án hai mươi năm, tuổi hai mươi, trong sự bí mật đầy hứng thú, hồi họp cùng các bạn trẻ bị giam giữ ở các pḥng khác đồng loạt ném tờ rơi, bướm khắp toàn trại để phản kháng và đ̣i cải thiện chế độ lao tù... Hoặc lấy làm thích thú vô cùng khi giả vờ đánh nhau để được vào nhà kỷ luật hầu mang thuốc cho các bạn hữu đang bịnh nặng trong kiên giam.

            -Tù nhân Vơ văn Mắn, Nguyễn văn Mừng, đều có án trên mười năm, rất vui vẻ t́nh nguyện giả vờ hái dừa trộm để mang thuốc men, quần áo... cho các tù nhân bị kiên giam lâu dài.Tuổi hai mươi.

            Cụ thể: câu nói “nước sông công tù“ là đặc trưng tinh thần làm việc của hầu hết các tù nhân: động tác lập đi, lập lại lờ đờ chậm chạp như đập xơ dừa đến tơi tả thành xơ... những nhác cuốc đúng hơn là những “nhác gừng“ mỗi khi vắng bóng cán bộ... thậm chí quét cái sân cũng sợ tốn sức lực.

            Thế nhưng, đào tường khoét vách để trốn trại thời rất nhanh nhẹn, thông minh, ư thức trỗi lên một cách toàn diện v́ có húng thú nhất là đứng trước sự sống c̣n. Cũng như những vụ đánh cắp hoa màu để mưu sinh thật là bén nhạy, hầu như các tù nhân dù chân chất đến đâu, sau một thời gian ở tù v́ lư do sinh tồn đều biết đánh cắp hoa màu để tồn tại. Họ không c̣n mặc cảm tội lỗi v́ như thế sẽ có thể đánh mất bản thân ḿnh trong một t́nh huống nếu không ăn cắp cũng phải biết che dấu cho các tù nhân cùng cảnh ngộ, để cùng sống với nhau trong lúc đói khổ tột cùng.

            -Tù nhân Nguyễn văn An, tuổi ba mươi, từ án thấp và mỗi lần trốn trại bị tăng án đến chung thân. B́nh thường trông rất lù đù, chậm chạp, nhưng không ai ngờ lúc bạo động trốn trại diễn ra, anh là người la lớn nhất và xông xáo vô cùng, mặc dù nhỏ con ốm yếu thật, song những tiếng hô hào lớn nhất, cổ động nhất đều phát ra từ anh; và có lẽ cũng là lần trốn trại đưa anh lên chung thân, khi bị phát hiện và không thể chạy kịp, chính anh từng hô hào kích động trước đó thế nào th́ lúc nầy lại kêu lớn ngược lại: cứu tôi với cán bộ ơi, bọn chúng đang đào thoát kia ḱa... Cứu tôi với cán bộ ơi...

            -H́nh ảnh cán bộ quản giáo tên Thẩm, Trung uư công an, và quản chế trong vụ bạo loạn trốn trại có tù nhân Nguyễn văn An ở trên, trước đó quản giáo nầy rất hung dữ, khắc nghiệt vô cùng với tù, nhưng vào lúc bạo loạn nỗi lên y đă quá sợ hăi chạy tháo thân chui vào chuồn heo gần đó mà trốn, các tù nhân tự giác cũng dớn dác chạy theo, cho đến khi t́nh h́nh bị đảo ngược lại, người ta thấy cán bộ quản giáo nầy quần áo đầy phân heo và tiếp tục quát tháo. Các tù nhân nghe rất rơ tiếng y trả lời viên trưởng trại về việc: “tại sao mày nhơ bẩn đến thế...” -Dạ thưa...em đang phục kích.

            Cụ thể hơn có Linh mục, theo biên bản kỷ luật trước toàn trại: tội ăn cắp hoa màu (ông ăn dừa lúc lột dừa và lén mang về để kho), nhưng ông vẫn tươi cười, xem đó là một cách cải thiện: có những lúc cái vật chất lấn lướt cái tinh thần, chứ không phải “luôn một đường chấp kinh”, và sự hăi hùng đến kinh sợ trước bao tàn nhẫn của các cai tù. Nó diễn ra như dưới thời các bạo chúa, chúng có quyền bắn, xé xác phanh thây các tù nhân một cách hứng thú, tất cả đều là người Việt. Nó diễn ra hơn những phim cao bồi về mặt tính thể của con người thể hiện tính chất hào hùng để vượt qua đến hy vọng... C̣n ở đây, nó thể hiện sự quái ác tột cùng của con người khi không c̣n nhân tính, để từ đó cũng gọi là xây dựng một tương lai Thiên đường trần thế.

            -Tù nhân Nguyễn văn Chức, Linh mục, án hai mươi năm, tuổi ngoài năm mươi, rất ít có thăm nuôi, ông vẫn tươi cười khi bị đọc kỷ luật về tội ăn cắp trước toàn trại. Lúc ra khỏi kỷ luật, ông cũng lạc quan vui vẻ như b́nh thường.

            -Tù nhân Nguyễn văn Lan, án chung thân, gần sáu mươi, trong cuộc sống hằng ngày rất đạo mạo, nghiêm khắc... Thế nhưng một hôm có việc phơi đường giữa sân trại, mọi người lấy làm ngạc nhiên thấy ông chạy ra bỏ đường vào áo rồi cuốn lại chạy vào pḥng cũng như kêu gọi các bạn tù khác cùng làm như thế... Ông bảo ăn cắp của cộng sản không có tội, và có người bảo: nay mai đảng viên cộng sản cũng là các công dân vậy... phải có pháp luật, pháp luật chứ. Khiến ông đang hứng thú trở nên đỏ mặt và giận giữ lắm.

            -Khoái cảm (euphoria): người bệnh vui vẻ một cách ngây ngô, thấy mọi việc chung quanh đều hợp với ḷng ḿnh, nên cười nói một cách thích thú, có khi cười hố hố suốt ngày. Thường gặp trong các bệnh có tổn thương thực thể năo bộ, loạn tâm thần sau chấn thương sọ năo, liệt tiến triển.

            Cụ thể: các tù nhân loại nầy thường là những người c̣n sống sót sau những lần trốn trại. Họ đă bị đánh đập và tra tấn dă man như:

            -Huỳnh Th́, án phạt 20 năm, hay cười âm thầm một ḿnh, không nói năng với ai hết và có khi cười hô hố một ḿmh rất lớn.

            -Bùi Huệ, Nguyễn văn Huệ, đều có án 20 năm, tuổi bốn mươi, hay cười hô hố một ḿnh, nhiều lúc vang cả một góc pḥng giam, cái ǵ cũng cười được không cần biết nội dung là ǵ cả.

 

            3) Các triệu chứng rối loạn cảm xúc:

 

            -Cảm xúc hai chiều (ambivalence): người bệnh đối với một đối tượng, một sự việc nào đó lại có hai loại cảm xúc trái ngược nhau như vừa yêu vừa ghét, vừa thích cười vừa không thích, thường gặp trong tâm thần phân liệt.

            Cụ thể: các tù nhân thuộc các tổ chức khác nhau, họ luôn đùm bọc nhau trong cùng cảnh ngộ, nhưng lại không ưa nhau v́ sự đố kỵ giữa tổ chức nầy và tổ chức khác, giữa mặt trận nầy và mặt trận kia. Họ giống như những con nhím chung chuồng, gần nhau là lông đâm vào nhau. Tâm trạng chung của các tù nhân là mong sớm được đoàn tụ với gia đ́nh nhưng lại ngại giảm án v́ sợ mang tiếng xấu là không c̣n khí tiết, mất phẩm chất... Nhưng với những người cộng sản có “thủ tiết” th́ lâu lâu họ cũng “đè ra“ và giảm cho vài tháng, việc nầy giống như gắn huy chương cho những người vốn chế độ không ưa lúc sắp chết.

            -Tù nhân Thế Vinh, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, mừng được gặp và ở lại với gia đ́nh cả tuần lễ tại nhà thăm gặp, nhưng ưu tư lo lắng v́ các tù nhân khác sẽ nghĩ xấu về ḿnh như đă biến chất nên mới được ở lâu đến thế. Ông vốn là giáo viên và vào tù thường được cho dạy con cán bộ.

            -Tù nhân Phạm quang Hồng, án trên mười năm, tuổi ba mươi, Tu sĩ, được đảm trách công việc văn hoá, thông tin, đây là công việc thuộc loai “quí tộc“ trong trại giam, không phải lao động khổ sai như anh em tù, hay bị cùm như các Tu sĩ khác, song trên nét mặt nghiêm nghị không biết có bao giờ ông nghĩ tại sao ḿnh được ưu tiên đến thế tại một nơi như Thung lũng tử thần.          

            Cụ thể: các thông tin trong tù rất quí nếu không nói là đói thông tin, nên khi nhận được bất cứ tin tức ǵ từ ngoài xă hội đều được tiếp nhận mà không cần sàng lọc, cho dù họ rất ghét các tin đồn nhảm.

            -Tù nhân Nguyễn văn Chơi, án chung thân, tuổi bốn mươi, rất mong có được các thông tin từ bên ngoài, nhiều tù nhân khác biết thế nên hay tạo các thông tin giả làm quà... Tất nhiên thường sau đó là có nước trà bánh ngọt kín đáo cho người đưa tin... v́ ông thường có gia đ́nh thăm viếng. Và ông rất mừng khi có tin tức mới, người ta nhận thấy tù nhân nầy có cử chỉ khác thường khi nghe tin lạ, rồi trở nên sợ hăi như quay mắt nh́n xem có ai đứng gần đó hay không.

            Cụ thể: các tù nhân rất ghét việc mua bán đổi chác v́ có thể gây ảnh hưởng xấu đến nhân cách.Thế nhưng họ cũng lén lút đổi chác hoặc đánh cắp hoa màu để mưu sinh .

            -Đặc biệt các tù nhân lương tâm rất ít người bị kỷ luật về tội danh nầy. .

            -Cảm xúc trái ngược (paradoxial sentiment): người bệnh có cảm xúc trái ngược như nghe tin người thân mất mà lại tỏ vẻ mừng mừng, nhận được tin vui mà lại buồn rầu. Thường gặp trong bệnh tâm thần phân liệt.

            Cụ thể: các tù nhân bị giam giữ nơi những vùng núi non hiểm trở, mỗi khi gặp gia đ́nh thường đều có sự vui mừng lẫn lộn v́ các tin tức lành, dữ thường cô đọng lại có khi đến hai, ba năm mới gặp một lần. Do đó:

            -Trước các tin về người thân mất mát, họ thường tỏ vẻ tư an ủi: thôi ra đi cho khoẻ, sống mà khổ sở quá thà đừng nên sống. Thật vậy, cuộc sống quá khổ cực trong tù khiến họ liên tưởng đến người thân ngoài xă hội cũng như thế.

            -Trước các tin mừng như con cái lập gia đ́nh.v.v. Họ cũng không vui, và thường là buồn rầu v́ họ nghĩ đến ngày vui ấy không có sự hiện diện của ḿnh.

            -Trước các tin giảm án, họ cũng không vui, mặc dù có mừng v́ rút ngắn được thời gian ở tù, nhưng những người trong tổ chức sẽ đánh giá ḿnh tha hoá chăng? Ngược lại không giảm cũng buồn, v́ không sớm được đoàn tụ với gia đ́nh, nhưng cảm thấy vui qua sự tự an ủi: ḿnh là người khí tiết, thuỷ chung mới đến nông nỗi nầy.

            -Lo âu (anxiety): người bệnh có cảm giác luôn luộn bị đe doạ bởi một cái ǵ rất đáng sợ. Hiện tượng nầy hay gặp trong nhiều bệnh tâm thần và là triệu chứng chủ yếu trong loạn thần kinh lo âu.

            -Tù nhân Nguyễn Xiềng, án hai mươi năm, tuổi ba mươi, luôn lo âu không biết sắp tới ḿnh có được thăm gặp hay không, nào án cao quá không biết có ngày về hay không, nhất là khi nghe tin người vợ sắp cưới sau một thời gian chờ đợi đă đi lấy chồng, sự việc khiến anh càng thêm bi quan, từ lo âu trở nên trầm cảm, ngoài giờ lao động anh thường trùm mền và khóc một ḿnh.

            -Tù nhân Nguyễn văn Đức, án hai mươi năm, tuổi ba mươi, luôn tâm sự nỗi băn khoăn lo lắng của ḿnh với mọi người: nào không biết thư có đến được gia đ́nh và tại sao trong một thời gian dài ḿnh không nhận lá thư nào cả, bị giam giữ nơi rừng sâu nước độc... không biết có ngày về hay không. Từ sự lo âu thái quá đến nóng nảy, anh thường hay gây gổ với các tù nhân khác, đánh nhau thường xuyên từ những nguyên nhân không đâu vào đâu cả. Sau những vụ ẩu đả, anh cũng nhận ra điều đó, nhưng cái nhiệt độ trên 400 C vào trưa hè giữa rừng sâu... anh lại tiếp tục lo lắng, bực bội và lên cơn gây gổ.

            Cụ thể: các tù nhân luôn cảm nhận về các nguy cơ khó tránh, nhưng không xác định được đó là cái ǵ, kèm theo bực bội, cảm thấy bất lực trước nguy cơ đó. Lo âu nặng hơn sẽ kèm theo xao xuyến, cảm thấy hồi họp, ngộp thở, khó ngủ, mệt và khó chịu toàn thân, các tù nhân thường có hội chứng chung về sự mệt mỏi gọi là Oải.

            -Tù nhân Lư Sen, án trên mười lăm năm, trên sáu mươi tuổi, các tù nhân gần gũi ông đều nhận thấy ngày nào cũng có tiếng than mệt mỏi, dù ông được miễn lao động khổ sai, sự lo âu thái quá trước cái chết, v́ án c̣n dài mà tuổi đă cao, lo cả thức ăn phải giữ làm sao cho khỏi hôi thối, nhất là nỗi lo hằng ngày phải đút lót cán bộ an ninh nầy món ǵ, cán bộ an ninh kia món chi... để được yên thân, nhiều nỗi lo khiến ông đến xao xuyến, mất ngủ, rồi uể oải ră rời cả toàn thân thật sự cùng chứng tiểu đường mang theo từ ngoài xă hội vào trại giam. Ông vào tù v́ tội tư sản. Trong số những người cộng sản ông nhớ nhất theo lời ông ”Thằng cha Đỗ Mười...”

            -Tù nhân Nguyễn văn Mười, án trên mười năm, tuổi hai mươi, v́ ngại lao động khổ sai nên xin làm trực sinh và công việc chính hằng ngày là đổ nhà cầu, đó là công việc mất vệ sinh, khiến anh bực bội nhưng không sao tránh khỏi được, tù nhân nầy tâm sự cảm thấy ngộp thở, khó chịu khi nhớ lại mùi ấy trong giấc ngủ.

            Ngoài ra, các tù nhân thường cảm thấy thấp hèn và trước những thất bại, họ tự ti, hoàn toàn lệ thuộc vào người khác, không c̣n tự lo được ǵ cả.

            -Tù nhân Nguyễn văn Thành, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, ngoài giờ lao động, thời gian c̣n lại chỉ mong sao có ai gọi nhờ vả việc ǵ để anh làm cho qua ngày tháng, nhất là công việc nấu nướng hằng ngày anh rất thích. Nếu không có việc ǵ th́ mang quần áo rách ra vá lại đến hết giờ.

            -Tù nhân Nguyễn văn Hàn, án trên mười năm, tuổi trên năm mươi, cùng nhiều tù nhân khác có điểm chung nầy: họ hay ngồi thinh lặng mọi lúc có thể để lần hạt đọc kinh lẩm nhẫm trong miệng hay niệm Phật... Họ phó thác tất cả: Con xin vâng.

            Xao xuyến cũng có thể bắt nguồn từ những bực tức, bị ức chế, đè nén không hiện ra được, không nói ra được... mà có nói ra nếu không khéo lọt đến tai của quản lư trại giam có thể bị cùm kẹp, kỷ luật. Đặc biệt, ở trại giam cán bộ quản giáo chỉ làm tăng thêm sự xao xuyến lo âu chứ không làm giảm nhẹ, thật vậy lúc nào họ cũng gây nên các khó khăn cho tù, khủng bố, đe doạ bằng mọi cách.

            Cụ thể: Từ khi xuất trại, trên hiện trường lao động, đến lúc trở về, các tù nhân chỉ nghe thấy toàn một thứ ngôn ngữ thúc dục, chửi bới, la mắng, đe doạ từ miệng của các quản giáo và quản chế như: nhanh lên, đá cho nó vài đá, thằng nào chống đối hăy bước ra đây, cho nó vào nhà cùm, không lao động cúp thăm nuôi, không cho nhận quà, không được nhận thư, viết thư.v.v. Thật sự những vụ đấm đá xảy ra thường ngày, có khi quản giáo, quản chế mới học vơ ngứa ngáy tay chân hay gọi các tù nhân vào giữa các lùm khoai ḿ rồi đánh đá cho đă tay chân... Khiến các tù nhân mỗi khi xuất trại, nhất là ở các đội trọng án thường lo âu, xao xuyến đến sợ hăi vô cùng.

            -Cán bộ Nhàn quản giáo đội trọng án tại trại A30, thuộc miền Trung Việt Nam, đánh đập, khủng bố tù nhân một cách tàn nhẫn. Tuổi chưa tới ba mươi.

            -Cán bộ Thẩm, cũng như cán bộ Nhàn nêu trên.

            -Cán bộ Nên, cũng như cán bộ Nhàn, Thẩm nêu trên, ngoài việc đánh đập c̣n cắt cả nhượng chân của các tù nhân trốn trại bị bắt lại.

            -Cán bộ Lâm, Thi, tuổi chưa đến ba mươi, phụ trách an ninh của trại được mệnh danh là Thung lũng tử thần th́ mỗi khi làm việc với ai, thường dùng roi điện và bắt nằm xuống đánh cho hộc máu, bầm ḿnh rồi dẫn vào nhà cùm mới buông, hai hung thần nầy đều nhỏ con, nước da lúc nào cũng tái mét, đặc biệt Thi chỉ cao hơn một mét, và cũng là một trong những cán bộ đă đánh Linh mục Nguyễn quang Minh nhiều nhất. Con người sinh ra vốn làm điều thiện và một đôi khi phạm phải điều ác, nhưng với những con người nầy hầu như không bao giờ biết làm lành, chúng sinh ra chỉ để làm điều ác sao mà ác thế.

Trở về đầu trang

 

 

RỐI LOẠN TƯ DUY.

 

            Theo Pascal: ”Con người là một cây sậy biết suy nghĩ”. Tư duy là một quá tŕnh hoạt động tâm thần phức tạp, là h́nh thức cao nhất của quá tŕnh nhận thức. Hoạt động của tư duy gồm có: phân tích, tổng hợp, so sánh, khám phá và trừu tượng hoá, phán đoán suy luận và cuối cùng t́m ra kết luận.

 

            1.Rối loạn tư duy qua ngôn ngữ: có thể phân chia rối loạn ngôn ngữ như sau:

            -Theo nhịp độ ngôn ngữ nhanh chậm.

            -Theo h́nh thức phát ngôn.

            -Theo kết cấu ngôn ngữ.

            Theo ư nghĩa, mục đích của ngôn ngữ.

 

            1,1.Phân chia theo nhịp độ ngôn ngữ nhanh:

 

        Tư duy phi tán (flight of ideas): quá tŕnh liên tưởng của người bệnh rất nhanh chóng, các ư nghĩ, nhận xét xuất hiện nối tiếp nhau mau lẹ và nông cạn trong đầu óc các tù nhân loại nầy, ư tưởng họ luôn luôn thay đổi theo tác động bên ngoài. Trường hợp nầy có thể gọi là cơn lốc của tư duy. Họ nói thao thao bất tuyệt, việc nọ chưa xong đă nói sang việc kia, không có một chủ đề nào nhất định cả. Thường gặp trong trạng thái hưng cảm.

 

            Cụ thể:

            -Châu sáng Thế: luôn vui vẻ, hoạt bát, nói huyên thuyên.

            -Nguyễn văn Chức: nói huyên thuyên.

            -Nguyễn văn  Lịch: lúc nào cũng cười nói huyên thuyên.

            -Lê phạm Long: chuyện ǵ cũng có thể bàn, cũng có thể nói.

            -Nguyễn văn Ban: nói hứng thú đến lắp bắp.

            -Lưu Trung: nói hứng thú đến các răng cà như đánh nhịp san sát với nhau.

            -Nguyễn văn Đức, Nguyễn văn Liêm, Vơ Kích: hứng lên mặt đỏ, dễ nổi nóng, tiếng trước nói, tiếng sau là nhảy vào đánh nhau liền liền.

            -Nguyễn văn Th́n, nói rất nhanh đến líu lưỡi.

 

        Tư duy dồn dập (accelerated thinking): các tù nhân loại nầy trong đầu óc luôn dồn dập đủ mọi ư nghĩ. Những ư nghĩ nầy xuất hiện ngoài ư muốn và người bệnh không sao ngăn cản được. Họ luôn luôn nghĩ trong đầu mà theo họ không thể viết ra hết đựợc, nào hết học thuyết nầy đến học thuyết khác, nào chương tŕnh kinh tế vĩ mô nầy đến chương tŕnh kinh tế khác, nền đạo đức nhân bản nầy đến nhân văn khác. Và trong cái đói cồn cào của bao tử khiến tư duy không ngớt nghĩ về các món ăn và cách nấu nướng... hầu hết các tù nhân đều luôn có ư nghĩ miên man về mọi vấn đề mà thực chất không h́nh thành đến đâu cả, nhưng nghĩ cứ nghĩ.

            -Tù nhân Nguyễn văn Hương, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, nguyên là một sĩ quan trong chế độ miền Nam tâm sự: nằm suy nghĩ hết chuyện nầy đến chuyện khác đầy những toà nhà tưởng tượng nhưng không đâu vào đâu cả... nhất là lúc nằm kiên giam chỉ có ngủ và nghĩ ngợi về đủ mọi thứ chuyện.

            -Tù nhân Huỳnh văn Hừng, án trên mười năm, tuổi ngoài năm mươi, ông luôn tâm sự không lúc nào mà không nghĩ đến chuyện non sông đất nước nó như là cái nghiệp của đời ḿnh, nhưng nghĩ măi không đâu đến đâu cả v́ cái học của ḿnh quá ít, không thể h́nh thành các tư tưởng cũng như các học thuyết được. May ra nó chỉ có tên mà không có nội dung.

 

        Nói hổ lốn (logorrhoea): Người bệnh nói luôn mồm, ư tưởng linh tinh và nội dung vô nghĩa. Gặp trong bệnh tâm thần phân liệt và trong trạng thái tâm thần sa sút.

            -Cụ thể: có một số tù nhân nói luôn mồm nhưng không có nội dung. Những ư tưởng về mọi thứ nhưng không rơ ràng, như thường phê phán về nhân vật chính trị nầy hoặc chính khách nọ. Nói xấu hết người này đến người khác và cuối cùng nói xấu lẫn nhau. Hầu như trong lĩnh vực chính trị không có sự nghĩ tốt về người khác. Như thường tung ra các tin tức thời sự suy diễn theo các bản tin chính thức của nhà nước như nào có tin đồn như thế nầy thế nọ, thậm chí các bạn tù thường kháo vói nhau về loại người đó: ”vừa vào nhà vệ sinh xong trở ra đă có tin mới”.

            -Tù nhân Nguyễn văn Hưng, án trên mười lăm năm, tuổi bốn mươi, miệng nói luôn mồm, nhưng những ư tưởng không có chủ đề gặp đâu nói đó, nói trước quên sau.

            -Tù nhân Trần văn Hưng, án trên mười lăm năm, tuổi năm mươi, nói suốt ngày, gặp ai cũng có chuyện để nói mà nội dung thật sự không có ǵ cả ngoài mấy cụm từ: ăn chưa, ngủ chưa, bao giờ gia đ́nh đến, mệt quá, thật là oải....

 

            Cụ thể: về phía cán bộ trại giam, họ nói nhiều hơn ai hết với những lời sáo rỗng thuộc ḷng, những danh từ triết học cao xa mà thật sự chính họ cũng không hiểu nó mang ư nghĩa ǵ, rơ nét nhất qua phát biểu của một anh cán bộ ở cấp thấp là quản chế cũng phát biểu như các lănh tụ của chúng: các anh phải cố gắng lên, chúng ta tiến lên xă hội chủ nghĩa không thông qua tư bản chủ nghĩa, chúng ta đang ở trong thời kỳ quá độ.v.v.

            Cụ thể:

            -Cán bộ Tâm, tuổi ba mươi, nhưng thật khó đoán về tuổi tác những cán bộ quản lư trại giam cũng như các cư dân quanh vùng trong thời kỳ nầy, v́ họ có cuộc sống quá cơ cực nơi rừng sâu nước độc, nên đều già trước tuổi rất nhiều. Có câu chuyện thường kể lại giữa các tù nhân: một hôm trên đường lao động, các tù nhân chào người phụ nữ đi ngang qua “Mẹ đi đâu đó...” Nhưng người phụ nữ nầy liền đính chính ngay: “Tôi năm nay chỉ mới ba mươi...” v́ người chào ngoài bốn mươi... Cán bộ Tâm nầy đánh tù rất dữ và thường thích đánh ở hai đầu gối, có khi sưng to thành đầu voi, nhưng đặc biệt khi nghe giọng nói tù nhân nào ở Quảng là y hết đánh nguyên văn: ”Mi ở Quoảng hả... tau thoau cho mi”. Rồi y thường thuyết giảng về chủ nghĩa Mác Lê nin bách chiến, bách thắng, về cải tạo chỉ có hai con đường hoặc về với gia đ́nh hoặc ra lô sáu tức nghĩa địa mà nằm. Cũng như các cán bộ quản giáo khác, y có c̣ riêng luôn ṿi vĩnh quà của các tù nhân mới thăm đem cống nạp cho y.

            -Cán bộ Tùng, an ninh trại Xuân lộc thuộc miền Nam Việt nam, miệng luôn mồm nói về con đường tiến lên chủ nghĩa cộng sản, lúc đó của cải như không khí, con người như thánh hiền.v.v. nhưng hằng ngày chỉ thấy y là một hung thần, hoặc làm ra của cải đâu không thấy, song chỉ toàn ṿi vĩnh xin quà của các tù nhân. Và đối với cán bộ nầy khi nói về những vấn đề như thế là một vinh dự, c̣n xin quà cướp đoạt của tù nhân th́ đó là v́ cuộc sống.

Trở về đầu trang

 

 

            1.2.Phân chia theo nhịp độ ngôn ngữ chậm:

 

        Tư duy chậm chạp (bradyssychia): Các tù nhân sau một thời gian dài bị giam giữ, do bị tra tấn, thiếu dinh dưỡng trầm trọng thường dẫn đến tư duy chậm chạp, nó trái ngược với tư duy phi tán, quá tŕnh liên tưởng ở người bệnh hết sức chậm. Họ suy nghĩ khó khăn, chậm chạp, nội dung đơn điệu, nghèo nàn. Các tù nhân rơi vào chứng nầy nói rất chậm, dừng lại rất lâu sau mỗi câu nói, hỏi măi mới trả lời. Thường gặp trong trạng thái trầm cảm.

 

            Cụ thể::

            -Tù nhân Nguyễn văn Toán, án trên mười lăm năm, tuổi trên bốn mươi, đôi mắt lơm sâu không phải v́ mất ngủ mà chính v́ thiếu ăn, và một khi thiếu ăn th́ có muốn ngủ cũng khó an giấc. Mỗi khi ai nói hay nhắc nhở điều ǵ, tù nhân nầy thường ngước mắt nh́n lên có khi há hốc mồm một lúc lâu mới hiểu ra vấn đề. Và để có được câu trả lời phải mất ít phút, c̣n với những câu phức hoặc những vấn đề phức tạp th́ dường như anh không nghĩ ra được. Nên trong mẫu đối thoại với anh thường có câu hỏi đuôi: -họ nói ǵ vậy?

 

        Tư duy ngắt quảng (barrage): Người bệnh trong khi đang nói chuyện, ḍng ư tưởng bị ngắt quảng làm cho họ dừng lại không nói được, măi về sau mới tiếp tục nói được, hoặc bỏ dở câu nói trước sang chuyện khác.Thường gặp trong bệnh tâm thần phân liệt.

 

            Cụ thể:

            -Tù nhân Đinh tiến Khẩu, Linh mục, sau ba năm kiên giam, khi tiếp xúc với ai, suy nghĩ của người tù nầy luôn bị cách quảng và lời nói cũng bị cắt đứt, đang nói vấn đề nầy bỗng quên mất rồi chuyển sang chuyện khác, một hồi lâu lại chuyển sang chuyện cũ.

            -Tù nhân Nguyễn văn Lượng, án hai mươi năm, tuổi năm mưoi, dưới ánh mắt sâu bên sau cặp kính cận với hơn chục năm trong các trại lao cải, tù nhân nầy dù là trưởng một bệnh xá ở trại Thung lũng tử thần, nhưng tư duy luôn bị ngắt quảng, mỗi khi muốn diễn đạt điều ǵ, hoặc đang nói chuyện với ai th́ quên bẵng không biết ḿnh đang nói ǵ, măi một hồi lâu mới nhớ lại và tiếp tục câu chuyện. Và ông cứ than như một thái độ phân trần: -Ở tù lâu, nó là như thế.

 

        Tư duy lải nhải: các tù nhân kể một cách tỉ mỉ những chi tiết thứ yếu của sự việc và rất khó chuyển sang nội dung chủ yếu. Ta rất khó ḷng nghe hết những lời kể của các tù nhân loại nầy. Thường gặp trong bệnh động kinh. Đặc điểm của loại nầy là các tù nhân rất thích kể về quá khứ.

 

            Cụ thể:

            -Tù Nhân Nguyễn văn Hiện, án hai mươi năm, tuổi ngoài sáu mươi, vốn là một Trung tá trong chế độ miền Nam trước đây, ông luôn kể về quá khứ của ḿnh một cách say sưa và cứ lập đi lập lại như thế, tất nhiên những lúc không có cán bộ cai tù, và an ninh trại giam cũng biết rơ đó là câu chuyện của một ông già lải nhải, lẩm cẩm, song cũng là dịp các c̣ trong tù dùng nó để hù doạ v́ ông lăo rất thường thăm gặp, rồi chúng mang các thứ quà của ông già đó đem nộp cho cán bộ “đại ca“ của chúng.

 

        Tư duy kiên định (perseverance): Các tù nhân mang chứng nầy luôn luôn lập lại một chủ đề nhất định, biểu hiện rơ trong khi nói chuyện hoặc trả lời thầy thuốc. Gặp trong chứng hoang tưởng của bệnh tâm thần phân liệt, loạn tâm thần phản ứng nhân cách bệnh.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Trần Sửu, án hai mươi năm, tuổi trên năm mươi, do sự cảnh giác quá cao trước sự chụp mũ bất cứ lúc nào của các cán bộ cộng sản, nỗi ám ảnh về sự kiên giam lâu dài, khiến ông nhất cử, nhất động đều không biết, không nghe, không thấy. Mặc dù đóng vai như thế khiến ông được yên thân trong những ngày tù lâu dài, song theo thời giam tù nhân nầy trở nên trầm cảm, ít nói, lủi thủi, ẩn thân một ḿnh.

            -Tù nhân Nguyễn văn Học, án trên mười năm, tuổi trên bốn mươi, tù nhân có bệnh suyễn thật, nhưng cũng như các tù nhân khác v́ quá sợ lao động khổ sai, nên giả vờ đóng vai bệnh nặng hơn, họ có cách thở do luyện tập giống như suyễn thật và mỗi lần đi khám bệnh có cách thở như thế sẽ được nghỉ trong ngày hôm ấy, do vậy khi bác sĩ hỏi họ chỉ có mấy câu trả lời thật gọn: mệt quá... rồi kéo o... o... kḥ khè... Lần nào, ngày nào lúc nào đi khám bệnh tay cầm cuốn sổ và ngôn từ chỉ gọn bấy nhiêu.

Trở về đầu trang

 

1.3 Phân chia theo h́nh thức phát ngôn:

 

        Nói một ḿnh (monologue): Người bệnh nói lẩm bẩm một ḿnh, nội dung không liên quan đến hoàn cảnh.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn văn Hành, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, sau một thời gian phải chịu đựng lao động khổ sai mà không có sự thăm gặp của gia đ́nh, anh trở nên khủng hoảng, luôn luôn nói một ḿnh với nội dung là nguyền rủa chế độ cộng sản mà anh đă hơn nửa cuộc đời cống hiến.

            -Tù nhân Nguyễn văn Đỏ, án chung thân, tuổi bốn mươi, thường nói một ḿnh cả khi đi đứng mà không ai biết rơ nội dung là ǵ.

 

        Nói tay đôi (dialogue): Các tù nhân loại nầy thường nói chuyện với một nhân vật tưởng tượng hay đang tranh luận với ảo thanh, gặp trong tâm thần phân liệt hoặc loạn tâm thần phản ứng.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn văn Hải, án trên mười năm, tuổi ba mươi, thường ngồi thiền và nói chuyện với một nhân vật hoang tưởng nào đó không ai biết, anh cho biết đang theo Đạo Tiên và mỗi lần ngồi toạ thiền là nói chuyện với thần tiên.

            Tù nhân Nguyễn văn Thạo, án trên mười năm, tuổi trên bốn mươi, sau thời gian ở tù quá lâu, anh trở nên trầm cảm, thường ẩn ḿnh một chỗ sau giờ lao động và ngồi th́ thầm với chính ḿnh mà không ai biết rơ là ǵ.

 

        Trả lời gián tiếp (incorrect answers): Hỏi một đàng, người bệnh trả lời một nẻo, không chú ư đến nội dung câu hỏi, gặp trong tâm thần phân liệt.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn văn Nghinh, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, không có sự thăm viếng của gia đ́nh, hoàn toàn sống nhờ sự cải thiện rau cỏ ngoài trời, sau thời gian dài thiếu thốn vật chất, anh bị chứng ù tai, mắt mờ, tâm thần nghễnh ngăng, nghe một đàng hiểu một nẻo, hỏi việc nầy trả lởi thế khác... Đặc biệt lúc nào cũng có câu đệm: -Thế à...thế à...

            -Tù nhân Trần văn Dũng, án trên mười lăm năm, tuổi hai mươi, v́ bị đánh đập thật tàn nhẫn lúc chấp cung, nhất là bị tra tấn bằng roi điện theo lời kể của những người trong tổ chức, c̣n chính anh sau đó chỉ c̣n nhớ là bị điện giựt nhảy tưng tưng lên mà thôi. Những ai muốn trao đổi chuyện ǵ anh thường hiểu rất ít người khác muốn ǵ, nên thường anh chỉ làm theo ư ḿnh từ cách ăn uống đến sinh hoạt, như rau nhặt về chỉ rửa sơ và ăn chứ không chịu nấu chín... quần áo th́ lại giặt giũ rất kỹ... ai hỏi ǵ thường không trả lời và có trả lời thường là khác với nội dung câu hỏi.

 

        Không nói (mutism): không nói có nhiều nguyên nhân do hoang tưởng và ảo giác chi phối, do hiện tượng phủ định (trạng thái căng trương lực), do liệt cơ năng cơ quan phát âm (loạn thần kinh hysteria), do hoạt động tâm thần nghèo nàn (tâm thần sa sút), do hoạt động tâm thần bị rối loạn nặng (trạng thái lú lẫn).

            Cụ thể:

            -Tù nhân Vơ văn Danh, án trên mười lăm năm, sau một thời gian dài giam giữ, anh trở thành một cái xác không hồn, như người bị câm, suốt ngày anh không nói ǵ hết cả, cũng đi lao động như các anh em khác, song ai muốn chọc ghẹo ǵ anh cũng không nói ǵ với nét mặt b́nh thản, nếu không nói là vẫn vui, giữ hoà khí với anh em.

            -Tù nhân Nguyễn Lân, án trên mười năm, tuổi ba mươi, sau một thời gian dài lao lư, anh trở nên trầm nhược, kể cả lúc vợ con đến thăm gặp người tù nầy cũng không nói năng ǵ cả khi trực tiếp đối thoại với vợ con... Anh lại mang thêm chứng ảo thanh thường hay nhảy vào các kho rồi nhai gạo sống, cho đến khi các tù nhân khác bắt gặp th́ anh chỉ bảo gỏn gọn trong mấy từ: -có Thần thánh gọi tôi làm như vậy.

            -Tù nhân Nguyễn văn Hường, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, sau một thời bị giam giữ lâu dài, mất liên lạc hoàn toàn với gia đ́nh, anh trở nên trầm cảm, ít nói dần dần rồi im lặng hẳn trong cuộc sống hằng ngày. Tuy trên nét mặt vẫn c̣n vui vẻ với mọi người.

 

        Nói lập lại (palilalia): Người bệnh luôn luôn lập đi lập lại một số chữ hay một câu, không ai hỏi cũng cứ nói.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn văn Linh, án hai mươi năm, tuổi hai mươi, thường luôn nói giữa chỗ đông người, cũng như những lúc một ḿnh: -Ối trời ơi lâu quá không có thăm nuôi, mặc dù gia đ́nh chỉ mới đến cách đó một vài tuần, ôi đói quá, ôi khổ quá... ôi trời ơi là trời... Mẹ ơi là Mẹ.

            -Tù nhân Nguyễn Pháp, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, thường lập đi lập lại một số từ như: Nghiệp báo, nghiệp báo... chết, chết, trời ơi là trời... Tù nhân nầy bị lao phổi và sau đó bịnh nặng rồi chết trong trại giam. Người ta được biết lúc mới vào tù anh rất khoẻ mạnh, khi ra lao động khổ sai, nơi đây có quá nhiều người mắc chứng lao phổi khiến anh sợ hăi và có làm đơn lên ban giám thị yều cầu cách ly những tù nhân nầy ra một khu riêng biệt, các tù nhân phản ứng dữ dội, v́ họ vốn như những con cừu luôn cần sự sưỏi ấm cho nhau. V́ yêu cầu đó mà anh bị các tù nhân khác cô lập cho đến ngày cũng mắc chứng lao phổi, nằm bệnh xá lâu dài và chết trong trại giam. Các bạn tù đến thăm viếng, anh chết trên vũng máu do thổ huyết... Những từ ngữ luôn trên miệng anh mà mọi người như vẫn c̣n nghe rơ: - Nghiệp báo,nghiệp báo.

 

        Đáp lập lại: Đối với mỗi câu hỏi khác nhau, người bệnh trả lời bằng một câu nhất định.

Cụ thể:

-Tù nhân Nguyễn văn Lư, án chung thân, tuổi hai mươi, mặc dù tuổi c̣n rất trẻ nhưng sau một thời gian bị giam giữ, anh trở nên trầm cảm, tính khí nóng nảy như đối với mọi câu hỏi tù nhân nầy chỉ trả lời ngắn gọn: -Không biết, không biết... ừ, ừ.

-Tù nhân Vơ Văn Bộ, Linh mục, án tập trung lâu dài, ngoài sáu mươi tuổi, Người nguyên là Giám đốc Trung tâm Fatima Sài g̣n rồi bị bắt giam, thường trả lời những câu hỏi khi làm việc với cán bộ: -Mẹ sẽ thắng, Mẹ sẽ thắng... Ngay khi viết các bản kiểm điểm thay v́ đề tên nước, vị Linh mục nầy cũng chỉ ghi: Mẹ sẽ thắng, Mẹ sẽ thắng.

 

        Nhại lời (echolalia): Khi hai người bệnh không trả lời mà chỉ lập lại câu hỏi.

Cụ thể:

-Tù nhân Vơ văn Ánh, án chung thân, tuổi năm mươi, rất thích nghe người khác nói chuyện, thích đối thoại, nhưng mỗi khi ai đặt câu hỏi, tù nhân nầy không trả lời trực tiếp, song chỉ lập lại câu hỏi, có khi lập lại nhiều lần.

-Tù nhân Nguyễn văn Cúc, án trên mười lăm năm, tuổi trên bốn mươi, thích nói chuyện, thích đàm đạo về mọi chuyện, nhưng mỗi khi có ai đặt câu hỏi th́ tỏ ra hiểu câu hỏi, rồi không trả lời mà chỉ lập lại câu hỏi kèm theo các câu nhấn mạnh ở đuôi: -Thế hả, thế à... Các tù nhân khác hay trêu anh ta có lẽ bị điếc nặng.

 

        Cơn xung động lời nói (verbal impulsion): Người bệnh lầm ĺ suốt ngày không nói, nhưng thỉnh thoảng lại có một cơn xung động lời nói: nói một hồi lâu những câu vô nghĩa, tục tằn. Thường gặp trong tâm thần phân liệt.

Cụ thể:

-Tù nhân Lê Giữ, án trên mười năm, tuổi hai mươi, b́nh thường ít nói, lầm ĺ, thế nhưng khi có sự bốc đồng về chuyện ǵ thường nổi cơn chửi rủa các đối tượng mà anh căm thù một cách thậm tệ với những ngôn từ thật thô tục, có khi chỉ là một tràng chửi thề.

-Tù nhân Vơ Kích, án trên mười năm, tuổi trên bốn mươi, thường trong cuộc sống vui vẻ, thích tṛ chuyện với mọi người, song mỗi khi thời tiết tăng nhiệt độ, vào những lúc đó, nếu có ai làm mích ḷng điều ǵ, lập tức khiến anh sẽ lên cơn chửi bới thô tục, thậm chí nhiều lần đến ẩu đả.

Trở về đầu trang

 

 

1.4 Phân chia theo kết cấu ngôn ngữ:

 

        Rối loạn về kết âm và phát âm: như nói khó, nói th́ thào, nói lắp, nói giọng mũi, nói giả giọng địa phương.

Cụ thể:

-Tù nhân Cai văn Thành, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, thích nói nhiều, nhưng phát âm rất khó, có khi nói lắp, có thể bị bẩm sinh từ nhỏ một phần, đến khi bị tra tấn theo lời tù nhân nầy thuật lại: anh bị đánh chấn thương nơi thanh quản bằng cú chặt karatê ngang cổ anh của cán bộ điều tra khi anh không chịu khai báo.

-Tù nhân Lê Chỉnh, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, vốn là một người ở đảo Lư Sơn, ngoài duyên hải miền Trung Việt Nam, nên giọng nói rất khó nghe đối với người trên đất liền, và sau một thời gian ở tù, do ít giao tiếp cũng như sợ sơ suất trong lời nói sẽ bị chụp mũ, dần dần anh trở nên nói khó, âm thanh phát ra như th́ thào không ai nghe rơ điều ǵ.

 

         Rối loạn về ngữ pháp và lô gích của tư duy:

Cụ thể:

-Tù nhân Nguyễn văn Ba, án trên mười lăm năm, tuổi ngoài năm mưoi, khi diễn tả việc ǵ thường lộn cú pháp như: ăn cơm th́ bảo cơm ăn; ăn thịt - thịt ăn; lao động - động lao; thăm nuôi - nuôi thăm...

            -Tù nhân Nguyễn văn Xuân, tuổi trên năm mươi, án chung thân, ông nh́n mọi người như không ai c̣n gần gũi ông nữa, trở nên lạnh lùng với mọi người và nhiều khi vô cùng cộc cằn, thô lỗ với các bạn tù khác một cách hung dữ.

            -Tù nhân Nguyễn đ́nh văn Long, tuổi năm mươi, án hai mươi năm, lúc đầu co rút v́ sợ hăi về sau dần dần xa cách các tù nhân khác, rồi cộng tác đắc lực với cai tù đến độ các tù nhân đều gọi y là: ”Long bọ  hung“. Điều đó nói lên trong ánh mắt trắng dă của y không biết bao nhiêu người là nạn nhân trong sự vô cảm đến không c̣n cá tính của y trong sự rối loạn về cảm xúc.

 

        Ngôn ngữ phân liệt (schizophasia): trong từng câu có thể dùng ngữ pháp mang ư nghĩa, nhưng giữa các câu không có liên hệ ǵ với nhau về ư nghĩa lô gích cả. Gặp trong tâm thần phân liệt.

Cụ thể:

-Tù nhân Lư công Cường, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, thường mở đầu câu chuyện với những câu nhập đề ai cũng có thể hiểu được, song đến nội dung không ai biết tù nhân nầy muốn nói ǵ, đến kết luận người ta có thể hiểu được như: Tụi nầy sẽ chết (ám chỉ cộng sản), chúng bá đạo độc ác... cơ trời báo cho biết chúng sẽ không tồn tại lâu dài. Quỷ vương xuất hiện sẽ có quân vương ra đời, nhưng Thượng đế không chết th́ Quỷ vương cũng khó mà chết.... Chư Thánh, Mẫu Thánh sẽ độ tŕ, hà bá sẽ lôi chúng, diêm vương đang chờ chúng.... Cộng sản sẽ sụp đổ, chế độ toàn trị sẽ sụp đổ.

-Tù nhân Bùi văn Bộ, án hai mươi năm, tuổi trên năm mươi, với một mẫu chuyện như sau: Trời hôm nay nóng quá, bạn có thăm nuôi không, không phải tôi hỏi để xin xỏ ǵ đâu, tôi muốn biết sự cầu nguyện của tôi có măn nguyện, tôi cầu cho mọi người được gia đ́nh đến thăm thường xuyên, quỷ vương th́ không  muốn ai được no đủ cả... chúng là thế, chúng sẽ chết, và trước khi chúng chết th́ anh em ḿnh không chết cũng què...Trời lại sắp mưa rồi.

 

        Ngôn ngữ không liên quan (incoherence idea): Tư duy người bệnh lộn xộn, họ nói ra những từ rời rạc không có mối liên hệ ǵ với nhau và không có ư nghĩa ǵ cả. Thường gặp trong trạng thái mê sảng và lú lẫn.

Cụ thể:                                                                                          

-Cụ Nguyễn Thiền, tuổi ngoài bảy mươi, án hai mươi năm, sau nhiều năm trong các trại lao động, cụ bắt đầu lú lẫn, nhiều lúc tới bữa ăn cụ không nhớ rơ ḿnh đă ăn rồi hay chưa, cụ luôn tính khoảng cách gia đ́nh đến thăm gặp thường ba tháng một lần, nhưng phép tính trên bàn tay cứ lộn măi, cụ rất lạc quan và luôn vui vẻ.

-Cụ Nguyễn C̣n, tuổi ngoài bảy mươi, án hai mươi năm, sau một thời gian dài trong các trại lao cải, nhất là lúc cụ mới bị bắt, dù tuổi đă cao song cũng bị tra tấn rất nặng, hai người con trai của cụ cũng hy sinh trong Mặt trận đấu tranh chống lại chế độ toàn trị cộng sản. Về sau cụ thường mệt mỏi và ốm đau thường xuyên, đến bữa ăn cụ hay nghĩ là ḿnh đă ăn rồi, nói trước quên sau, thường thinh lặng suốt ngày.

 

        Chơi chữ (word play): Trong lời nói, câu nầy tiếp câu khác theo vần. Ví dụ : Trời xanh ăn chanh...Gặp trong trạng thái hưng cảm và tâm thần phân liệt .

Cụ thể:

-Tù nhân Văn Triệu, án chung thân, tuổi gần ba mươi, thuộc nhóm Siêu thiên tử trong tù, hay làm thơ, đúng hơn là những câu vè và ngâm vịnh thường xuyên.

-Tù nhân Đỗ duy Thế, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, thường hay đọc những câu đối để vịnh về đạo đức hoặc chê bai người nầy người nọ, trầm uất, tù nhân nầy cũng thích làm thơ nhưng thật sự là những câu vè.

 

        Chơi ngữ pháp (syntax play): Người bệnh đảo lộn và cắt xén một số thành phần trong nệnh đề.

Cụ thể:

-Tù nhân Nguyễn đ́nh Bá, án trên mười lăm năm, tuổi bốn mươi, hay đảo lộn các câu khẩu hiệu như: Xă hội chủ nghĩa thành xếp hàng cả ngày; sớm đoàn tụ với gia đ́nh thành sớm về với Ông Bà, xă hội chủ nghĩa không có buôn bán bóc lột v́ chỉ có: bán mặt cho đất, bán lưng cho trời...

 

 

        Sáng tạo ngôn ngữ (Neologism): Các tù nhân trong t́nh huống nầy đặt ra một ngôn ngữ lạ lùng, người khác không thể hiểu được. Ngôn ngữ nầy có tính chất tự kỷ và không thông dụng.Thường gặp trong tâm thần phân liệt .

Cụ thể:

-Tù nhân Dung, án hai mươi năm, tuổi ba mươi, hay dùng tiếng dân tộc pha lẫn tiếng Việt mà chỉ có vài người trong nhóm của anh mới hiểu được.

-Tù nhân Triệu, án chung thân, tuổi ba mươi, dùng một số từ mà không ai hiểu ǵ cả ngoài vài người trong nhóm Siêu thiên tử với tù nhân nầy.

Trở về đầu trang

 

1.5 Phân chia theo mục đích ư nghĩa ngôn ngữ:

 

-Suy luận bệnh lư (moebid reasoning): Người tù luôn luôn nói về một chủ đề nhất định và thường là đi vào những cái vụn vặt, bí hiểm, xa rời thực tế, những vấn đề triết học siêu h́nh. Thường gặp trong tâm thần phân liệt.

Cụ thể:

-Tù nhân Hừng, án trên mười năm, tuổi trên năm mươi, ông hay nói về quân vương, về Nho giáo, song khi đi vào triết học không ai hiểu được ông muốn nói ǵ.

-Tù nhân Lịch, án chung thân, tuổi ngoài sáu mươi, cụ thường nói về airbus, nói về sự thuận lợi tương lai phát triển rồi nói về những con ốc vít của nó mà không ai biết thực hư như thế nào.

 

-Tư duy hai chiều (ambivalent thinking): Người bệnh c̣n tiếp nhận các ư nghĩ, những câu nói hoàn toàn trái ngược nhau. Gặp trong tâm thần phân liệt .

Cụ thể:

-Tù nhân Liêu Khầu, án mười lăm năm, tuổi trên ba mươi, thường anh hiểu ngược lại những ǵ mà người đối thoại nói với anh. Trong cuộc sống hằng ngày anh rất tốt vời mọi người, nhưng trải qua nhiều lần kỷ luật và kiên giam khiến anh trở nên nghi ngờ mọi trường hợp xấu có thể xảy ra với anh, nên luôn đặt ngược mọi vấn đề và có khi hiểu ngược lại mới yên tâm.

-Tù nhân Lê văn Tấn, án tử h́nh được tha tội chết xuống c̣n hai mươi năm, tuổi ngoài bảy mươi, sau bản án tử h́nh với thời gian nằm kiên giam khá lâu, cụ trở nên nghi ngờ mọi thứ, ai nói ǵ cụ luôn đặt ngược lại vấn đề, mặc dù cụ rất thương và giúp đỡ những người đồng cảnh ngộ. Có khi lại hiểu khác ư chân thành của người khác khiến nhiều người bất b́nh nhưng thông cảm cho cụ.

 

-Tư duy tự kỷ (autistic thinking): Người bệnh thu hẹp vào thế giới tự kỷ của ḿnh, tách rời với thực tế, luôn luôn nói đến những vấn đề của thế giới bên trong kỳ lạ của ḿnh. Gặp trong tâm thần phân liệt.

Cụ thể:

-Tù nhân Nguyễn văn Hương, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, luôn nói về thế giới riêng của ḿnh như những giấc mơ về những quần đảo thần tiên dù anh đang ở tù, hoặc giấc mơ về thế giới tuổi thơ.

-Tù nhân Phạm bá Công, án chung thân, tuổi ba mươi, luôn nói về tôn giáo, nói về Thượng đế trong thế giới suy niệm riêng của anh ta mà thật sự không ai hiểu nổi, Các tù nhân gọi trêu anh ta là: “Cụ Linh mục”, nhưng giá mà được học ở chủng viện th́ sự diễn tả của anh ta sẽ giúp mọi người dễ hiểu về Thượng đế hơn.

 

-Tư duy tượng trưng (symbolic thinking): Đối với các sự vật, hiện tượng bên ngoài, người bệnh thường gán cho một ư nghĩa tượng trưng. Ví dụ số 5 là tượng trưng cho sự thống nhất (như 5 ngón tay thống nhất trong một bàn tay).

Cụ thể:

-Tù nhân Nguyễn văn Ngần, án trên mười lăm năm, tuổi ba mươi, rất ít nói, và chỉ nói về một thế giới đại đồng mà Việt Nam sẽ đóng vai tṛ chủ yếu trong thế giới nầy v́ Việt Nam có con sông Cửu long là nơi hội tụ của nhiều sông ng̣i.

-Tù nhân Trần văn Ngành, án trên mười lăm năm, tuổi sáu mươi, nói về thuyết đại đồng và cho rằng Việt Nam là trung tâm của thế giới v́ Việt Nam có chín con rồng hội tụ thành mơt là con sông Cửu long.

 

-Rối loạn nội dung tư duy: Có ba h́nh thức chủ yếu về rối loạn nội dung tư duy: định kiến, hoang tưởng và ám ảnh.

Trở về đầu trang

 

2.1 Định kiến (fixed idea): C̣n gọi là ư tưởng quá đáng. Định kiến là những nhận định phát sinh trên cơ sở những sự kiện thực tế nhưng về sau chiếm một vị trí trong ư thức không phù hợp với ư nghĩa của nó và có kèm theo một t́nh trạng cảm xúc mănh liệt.

Ví dụ: Đối với một sự không vừa ḷng nhỏ nhặt như sai hẹn, góp ư không chính xác. Tù nhân mang định kiến nầy cho đó là có tính chất coi thường họ, người bệnh luôn luôn nhớ tới việc đó tỏ ra bực tức, đau khổ, và t́m cách phản ứng trả thù. Người bệnh không thấy chỗ sai của định kiến nên không có sự đấu tranh phê phán lại, nhưng với thời gian gặp hoàn cảnh thuận lợi định kiến sẽ mờ nhạt dần và mất hẳn. Định kiến khác với hoang tưởng là sự xuất hiện của nó không kèm theo biến đổi nhân cách. Thường gặp trong các trạng thái trầm cảm tự ty, cho ḿnh có phẩm chất xấu, nhiều khuyết điểm.

Cụ thể:

-Hầu hết các tù nhân đều mắc phải thứ định kiến nầy, họ luôn cho rằng: cộng sản không c̣n là con người, v́ thực tế họ chứng kiến các sự ác do những người cộng sản làm, họ không tin con người lại có thể giết đồng loại như thế, bách hại nhau lại có thể xem đó là niềm vui. Nhưng dần dần các định kiến nầy cũng bớt đi khi có một số cán bộ cộng sản cũng biết làm hoà với tù nhân để xin ăn từ các tù nhân có thăm nuôi thường xuyên.

-Các cán bộ cộng sản cũng vậy, họ luôn có định kiến với các tù nhân là tay sai của đế quốc, phản quốc... Nhưng dần dần sống gần các tù nhân họ bị cảm hoá v́ thật ra những con người gọi là kẻ thù của giai cấp hôm nay, họ là những con người không chạy theo đế quốc mà ở tù v́ đấu tranh cho quyền của con người, trong đó có chính họ. Các tù nhân nầy ngoài một ít người v́ sợ hăi mà đút lót như mỗi sáng phải lo cho quản giáo một gói ḿ ăn liền để được xếp vào vị trí nấu bếp khỏi phải lao động khổ sai, c̣n hầu hết các tù nhân đều cho trong cách thế của con người với con người như Thầy Châu Đạt, Tu sĩ Ḍng Đồng công mỗi khi có cán bộ đau ốm, ông cho thuốc gấp đôi các tù nhân khác và thường là thuốc quí nữa, khiến các cán bộ cai tù mỗi khi đau ốm đều chạy đến Thầy. Nên dần dần các định kiến nầy cũng đổi thay cả về hai phía, nhất là càng đi về phía các trại phía Nam.

Trở về đầu trang

 

2.2 Hoang tưởng (dulusion): Hoang tưởng là những ư tưởng phán đoán sai lầm, không phù hợp với thực tế khách quan, do bệnh tâm thần gây ra, nhưng người bệnh cho là hoàn toàn chính xác, không thể giải thích phê phán được. Hoang tưởng chỉ mờ nhạt hay mất đi khi bệnh thuyên giảm và hồi phục.

Dựa vào tính chất ta có thể nêu lên các loại hoang tưởng như sau:

-Hoang tưởng nguyên phát: là hoang tưởng xuất hiện không liên quan với ảo giác hay các rối loạn tri giác khác.

Cụ thể:

-Tù nhân Nguyễn văn Ba, án mười lăm năm, tuổi trên năm mươi, hay nói say sưa về một thế giới không hận thù, các tôn giáo hoà đồng trong Mặt trận Liên tôn... Con người sống chung với nhau trên hành tinh nầy như sống dưới một mái nhà chung.

-Tù nhân Nguễn văn Đức, án tập trung lâu dài, tuổi ba mươi, luôn nghĩ ḿnh là Hoàng tử, nhảy vào Việt Nam để cứu dân tộc nầy, và anh kể ra câu chuyện hoang tưởng qua trí tưởng tượng của ḿnh như thật, người tù nầy cũng có giai đoạn nghĩ ḿnh là một sĩ quan cao cấp và khai trên giấy tờ là một sĩ quan cấp Thiếu tá, khiến những người cộng sản vốn bắt lầm hơn bỏ sót, nên đă đưa anh vào các trại tập trung lâu dài.

         -Hoang tưởng thứ phát: xuất hiện trên cơ sở các rối loạn tri giác, cảm xúc, ư thức. Người tù trong t́nh huống nầy nh́n thấy những sự vật, những người chung quanh có một cái ǵ đặc biệt khác thường có liên quan đến ḿnh. Họ giải thích cái đặc biệt, cái khác thường ấy theo lối suy đoán riêng của ḿnh .

Cụ thể:                                                                                  

-Một số tù nhân khi thấy cổng trại có lúc bị xiêu vẹo, thấy cờ bị rách th́ nghĩ rằng chế độ cộng sản sắp tàn, thấy cán bộ cộng sản người nào hầu như chỉ biết dựa vào nhà nước, mà dựa vào nhà nước th́ không no đủ, nên phải nhờ vả xin từng chút một của tù vốn đă túng thiếu như ṿi từng tí bột ngọt, bột nem, ruốt... họ lại liên tưởng đến người thân ở ngoài xă hội có đi ăn mày như thế không.

-Tù nhân Nguyễn văn Đức, án hai mươi năm, tuổi ba mươi, vào những buổi trưa nóng nực, khi lao động khổ sai trở về, nếu có ai nh́n hay hỏi thăm sự mệt mỏi của anh, người tù nầy nghĩ rằng ḿnh đang bị xoi mói, nên chửi mắng có khi gây gổ người đối diện với ḿnh.

 

-Hoang tưởng suy đoán: Sự phán đoán của người bệnh bị lệch lạc và được cũng cố bằng một loạt dẫn chứng theo lô gích chủ quan. Nhiều sự kiện được họ giải thích một cách phiến diện và lệch lạc. Tất cả những ǵ trái với hoang tưởng đều bị bác bỏ. Hoang tưởng ngày càng hệ thống hoá và bền vững. Khi mới có hoang tưởng người bệnh c̣n giữ được khả năng lao động một thời gian dài và ngoài các hành vi bị hoang tưởng chi phối, người bệnh có thể sinh hoạt như người b́nh thường, làm cho người chung quanh phân vân không biết người ấy có bệnh hay không. Hoang tưởng suy đoán làm tan ră nhân cách người bệnh một cách sâu sắc.

Cụ thể:

-Đây là thứ hoang tưởng mà các lănh tụ trong tù vấp phải nhiều nhất, như cộng sản Đông Âu sụp đỗ họ suy luận lô gích chủ quan như đó là do cơ trời đă định rằng tới thời điểm đó th́ cộng sản phải như thế... Khi được biết qua tin đồn từ ngoài xă hội sẽ có Cao uỷ nhân quyền đến viếng thăm trại giam th́ lănh tụ nào cũng hớn hở thậm chí c̣n chuẩn bị ra tuyên bố.v.v. Nhưng khi có Cao uỷ đến th́ nhiều người bị mang đi cất giấu thật khổ sở, đến khi Cao uỷ đi th́ càng khổ sở hơn nữa như bị đoạ đày đến nơi cực khổ hơn, trong khi các tù nhân loại nầy thường suy đoán là sắp được Cao uỷ rước đi... mà nếu ai có ư nghĩ ngược lại họ sẽ cho có khi là phản bội anh em.

-Hoang tưởng cảm thụ: khác với hoang tưởng suy đoán, loại hoang tưởng nầy không có lô gích, nó lệch lạc và chỉ là những ư tưởng rời rạc không liên tục, có tính chất từng mảnh. Người bệnh không tham gia tích cực vào nội dung hoang tưởng như trong hoang tưởng suy đoán. Hoang tưởng cảm thụ ngay từ đầu xuất hiện đồng thời với các triệu chứng tâm thần khác: như rối loạn cảm xúc lo âu càng tăng, rối loạn tri giác kích động... Nội dung hoang tưởng có thể gắn với các sự kiện thực tế, hoặc mang tính chất hoang tưởng, nhân cách người bệnh không bị biến đổi nhiều.

Cụ thể:

-Trong một thời gian tại trại Thung lũng tử thần, các tù nhân luôn bị ám ảnh bởi chuyện đi Mỹ, ngay chiều về sau giờ lao động, các tù nhân đều chuẩn bị hành lư gọn để chờ người Mỹ đến rước, nên vào ban đêm khi nghe có tiếng rục rịch của động cơ máy cày, thậm chí của xe ḅ quanh trại giam ai cũng thức dậy uống nước trà và chờ đợi. Nhưng sáng hôm sau th́ người nào cũng ngủ gục v́ mất ngủ và rồi kiệt sức trên cánh đồng. Đây quả là hội chứng Mỹ quốc trong nhà tù cộng sản.

 

-Hoang tưởng di chứng: Là những hoang tưởng c̣n sót lại sau những rối loạn tâm thần, tồn tại một thời gian nào đó với tính chất một đơn chứng (monosymptom) cho đến lúc người bệnh phê phán được hiện tượng sai lệch nầy.

Cụ thể:

-Đại đức Nguyễn văn Lâm, trong trách nhiệm nhận lănh việc chữa trị tù nhân bị bệnh chó dại khiến đưa đến cái chết cho tù nhân Nguyễn văn Thụ, tại trại A30 thuộc miền Trung Việt Nam, thế nhưng với di chứng nầy hầu như ông lại không cho đó là sai lệch trong hoang tưởng của ḿnh, mà cho đó là tại số phận. Sau sự việc đáng thương với tù nhân nầy ông càng được cai tù tin cẩn hơn như cho tự giác.

Trở về đầu trang

 

Các loại hoang tưởng suy đoán:

-Hoang tưởng liên hệ: Người bệnh nghĩ rằng mọi việc xung quanh đều có liên hệ mật thiết với ḿnh, như khi thấy hai người nói chuyện với nhau th́ cho rằng họ bàn tán về ḿnh, nghĩ rằng người ta nh́n ḿnh một cách đặc biệt, xem thường ḿnh. Những thái độ lời nói của những người chung quanh, người bệnh suy diễn cho là ám chỉ ḿnh.

Cụ thể:

-Tù nhân Nguyễn đ́nh Bá, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, thường mỗi khi ai quan tâm đến anh, anh cho rằng họ đang theo dơi theo nguyên văn: Nh́n ánh mắt là tôi biết ngay mà, hắn đang theo dơi để báo cáo tôi. Khi diễn tả như thế anh nhăn nhó khuôn mặt vô cùng. Nhưng thật sự các bạn tù chung quanh chẳng có ai theo dơi cả, một đôi khi có người muốn thăm hỏi anh thế thôi.

-Tù nhân Trần Xiềng, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, cũng đầy sự hoài nghi không kém, thật sự có lẽ do hậu quả của việc truy lùng, khủng bố liên tục trong nhà tù. Nguyên văn lời anh thường suy đoán liên hệ: Tôi thấy hắn nh́n trong ánh mắt là sự theo dơi, những việc chúng làm không thể qua mặt tôi được. Nhưng sự thật nào có ai theo dơi anh ta, mọi cái nh́n của mọi người vẫn b́nh thường như mọi ngày.

 

-Hoang tưởng bị hại: Đây là tâm trạng chung của các tù nhân bị giam giữ lâu ngày, các tù nhân thường nghi ngờ rồi khẳng định một người nào đó, một nhóm nào đó theo dơi và t́m cách ám hại ḿnh, như bỏ thuốc độc vào thức ăn, nước uống, tổ chức giết hại, bắt bớ ḿnh. Đối tượng mà người bệnh nghĩ rằng ám hại họ thường là những người thân cận như cha mẹ, vợ con, bạn đồng nghiệp.

Cụ thể:

-Tù nhân Nguyễn văn Hồng, án trên mười lăm năm, tuổi ba mươi, rất lạc quan vui vẻ, nhưng mỗi khi thấy bóng dáng của cán bộ cai tù th́ ngay lập tức báo động cho các tù nhân khác biết: -Bọn ám hại chúng ta đang đến gần. Và mỗi ngày không biết có bao nhiêu lần báo động như thế.

-Tù nhân Trần văn Đồng, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, do lúc mới bị bắt có sự tiết lộ khai báo của những người trong tổ chức, nên về sau ông luôn nghi ngờ và rất sợ người. Khi có gia đ́nh đến thăm, ông vẫn luôn mời mọi người trong pḥng đến dùng trà, nhưng rất giữ kẻ và không nói ǵ hết v́ sợ bị hại. Các bạn tù rất hiểu và cảm thông với ông về nỗi ám ảnh nầy.

 

-Hoang tưởng bị chi phối: Người bệnh cho rằng có người nào đó dùng quyền thế, phù phép hay một phương tiện nào đó để chi phối toàn bộ tư tưởng, hành vi, cảm xúc của ḿnh. Ư tưởng bị chi phối thường là thành phần chủ yếu của ảo giác giả và hội chứng tâm thần tự động.

Khi nội dung hoang tưởng bị chi phối là thông qua các phương tiện vật lư như ḍng điện, tia tử ngoại, quang tuyến, siêu âm... th́ gọi là hoang tưởng bị tác dụng vật lư.

Cụ thể:

-Tù nhân Nguyễn văn Lắm, án chung thân, tuổi năm mươi, tù nhân nầy tâm sự:  ông luôn bị một người nào đó dùng phù phép ám hại, v́ trước đây ông đă từng bị ám hại như thế.

-Tù nhân Lê Giữ, tuổi gần ba mươi th́ luôn nghĩ có ḍng điện luôn chạy qua người khiến anh ta trở nên hung dữ và khó chịu trong người, luôn nổi nóng và gây gổ với người khác.

 

-Hoang tưởng ghen tuông: người bệnh với những hiện tượng vô lư hay những bằng chứng không rơ rệt như khẳng định vợ hay chồng ḿnh có quan hệ bất chính với người khác. Hành vi của họ luôn luôn bị lôi cuốn vào sự t́m ṭi những biểu hiện về sự bội bạc đó như kiểm tra thư từ, ảnh,ví, áo quần...

Cụ thể:

-Hầu hết các tù nhân khi thấy có người bạn tù nào bị gọi làm việc hoặc làm việc định kỳ, họ đều cảnh giác về người đó, có khi họ nghi oan về người đó v́ phần lớn đều dựa vào những bằng chứng không rơ rệt để cách ly tù nhân đó v́ đă làm việc vào ngày đó và có những vụ kỷ luật xảy ra.v.v. Nhưng thật sự mạng lưới an ninh của cai tù được sắp đặt đă báo cáo cả rồi, và nạn nhân bị làm việc hôm đó đôi khi lại là một tù nhân khả kính nào đó mà cán bộ cai tù muốn chia rẽ họ với nhau.

-Tù nhân Bùi Xuân Phương, án hai mươi năm, tuổi trên bốn mươi, thường nói: Bạn với kẻ thù là kẻ thù... Nên những người trong tổ chức với ông thường rất khó quan hệ với các tổ chức khác, mặc dù họ cùng ở chung trong nhà giam với nhau và có nhiều tổ chức cũng như các mặt trận khác nhau. Các tổ chức dù trong tù nhưng công việc bảo vệ nội bộ rất chặt chẽ.

 

-Hoang tưởng tự buộc tội: Người tù tự cho ḿnh phạm sai lầm lớn, có phẩm chất xấu, có nhiều tội lỗi... đáng bị trừng phạt. Hoang tưởng tự buộc tội thường đưa đến ư tưởng và hành động tự sát.

Cụ thể:

-Tù nhân Trần đ́nh Nguyên, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, có lần qú xuống và van xin cán bộ cai tù muốn sai bảo chuyện ǵ th́ y cũng làm, v́ theo lời y tự đấm ngực là kẻ tội lỗi, nguyên văn: -xin cho tôi được ăn phân cán bộ cũng xin kham, hằng ngày y vẫn luôn qú luỵ mặc dù đă lớn tuổi.

-Tù nhân Văn B́nh, án chung thân, tuổi ba mươi, anh nhảy vào chảo nước đang sôi kết liễu đời ḿnh để phản kháng về nhân quyền, nhưng cũng nói lên sự mệt mỏi, thất vọng trước kẻ bạo tàn.

 

-Hoang tưởng nghi bệnh: người bệnh tự cho ḿnh có bệnh giang mai, bệnh ung thư, bệnh lao và đưa ra một loại bằng chứng về các bệnh nầy. Họ cho là bị lây bệnh trong hoàn cảnh nào đó, liên tục đi khám bệnh, làm nhiều xét nghiệm và mỗi lần thấy kết quả âm tính, họ không tin vào sự khám xét đó.

Cụ thể:

-Hầu hết các tù nhân đều mắc chứng nầy, v́ môi trường thiếu vệ sinh của trại giam, cơ thể không đủ dinh dưỡng ngày càng c̣i hẳn, khiến các tù nhân luôn ưu tư về mọi thứ bệnh mà thật sự người nào cũng có bệnh, từ đau bụng tiêu chảy - chứng nầy rất phổ biến và thường xuyên trong tù, bệnh tim mạch đến lao phổi.v.v. Thật vậy các tù nhân đều mắc phải ít ra một trong các chứng đó.

-Tù nhân Trần văn Cẩn, Nguyễn phú Thuận... mặc dù có huyết áp cao nhưng đă phải uống thêm nước muối để áp huyết tăng cao hơn mới có thể nghỉ lao động khổ sai.

 

-Hoang tưởng tự cao: người bệnh cho ḿnh thông minh, tài giỏi, xuất chúng, việc ǵ cũng làm được, sức lực mạnh mẽ không ai bằng... Họ cho ḿnh có thể chỉ huy tất cả các hạm đội trên thế giới. Có địa vị cao, quyền lực lớn, vàng bạc châu báu hàng kho.

Cụ thể:

-Các trưởng trại đều hoang tưởng rằng Đảng là Ta, Ta là Đảng mà đảng đă thắng được đế quốc Mỹ th́ không chuyện ǵ trên thế gian nầy mà không làm được.

-Một số các tù nhân như nhóm Siêu thiên tử nghĩ rằng Ta là con của Trời, Ta  thông minh nhất, tài giỏi nhất, cái ǵ cũng nhất... và việc điều khiển cả thế giới nầy chỉ là thời cơ.

 

-Hoang tưởng phát minh: Người bệnh tuy không học tập về y khoa nhưng cho rằng ḿnh đă phát minh ra những phương pháp điều trị các bệnh nan y có kết quả và viết tài liệu phổ biến các phương pháp đó... Người bệnh tự cho ḿnh nghĩ ra những phát minh mới về vật lư, hoá học độc đáo kỳ lạ, những phương án cải tạo và xây dựng xă hội phi thực tế và đem tŕnh bày với mọi người, t́m cách thuyết phục họ thừa nhận.

Cụ thể:

-Trong các trại lao cải luôn xuất hiện các thầy thuốc nam, họ đều là những “nhà phát minh” ra các công dụng của cây cỏ, dù hiệu quả của các dược liệu nầy không xa lạ với các thầy thuốc Đông y truyền thống, tuy vậy nó lại được cán bộ cộng sản khuếch đại rất nhiều để chữa trị bệnh tâm lư của tù nhân v́ môi trường tù rất thiếu thốn mọi thứ khiến tù nhân nào cũng bị ám ảnh đến bịnh hoạn của chính ḿnh. Quả thật những “nhà phát minh” th́ trốn tránh được không phải lao động vất vả như các tù nhân khác, c̣n các cai tù th́ chữa trị được nhiều thứ bệnh cho tù nhân đến gần cái chết hơn mà không bị tai tiếng, cũng như không mất một xu nào cả.

 

-Hoang tưởng được yêu: Người bệnh cho rằng có nhiều người yêu ḿnh say mê đắm đuối, t́m cách gặp ḿnh để biểu lộ những say mê tha thiết đó nhưng họ không yêu lại.

Cụ thể:

-Chứng hoang tưởng nầy các lănh tụ cũng như các chức sắc tôn giáo trong tù đều mắc phải, họ luôn nghĩ có nhiều người ái mộ, tôn sùng ḿnh.v.v. Sự thật phần lớn các chức sắc trong tù thăm nuôi đầy đủ hơn mọi người, nên họ đến sự thường không v́ các giá trị tinh thần.

-Doanh nhân Bùi ngọc Phương, được mệnh danh là “vua dầu lửa” của miền Nam trước đây, rất nhiều người đến với ông trong sự ”ái mộ”, thậm chí có người c̣n qú xuống để được chiêm ngưỡng bàn tay “quư nhân“ của ông. Có lẽ doanh nhân nầy luôn nghĩ họ đến do mến phục ḿnh, nên người nào kể cả nhiều cán bộ đều có quà “mọn”, song có lần vào dịp thăm nuôi ông giấu tiền mặt v́ nghĩ rằng các cán bộ ông đều cho quà chúng như con cháu, chẳng may số tiền ấy do tuổi già ông cột không chặt vào chân đă rơi văi dọc đường khiến việc giấu tiền mặt bị bại lộ, ông bị kiên giam đến chết.

Các loại hoang tưởng cảm thụ:

-Hoang tưởng nhận nhầm: Người bệnh khi bố mẹ đến thăm th́ không thừa nhận mà cho rằng những người đó giả dạng bố mẹ ḿnh. Ngược lại khi người lạ xuất hiện th́ lại cho là bố mẹ ḿnh. Đôi khi họ nhận những người bệnh khác là những người thân thích.

Cụ thể:

-Loại hoang tưởng nầy thường mắc phải đối với các tù nhân khi mới vào trại giam, v́ từ môi trường tự do ngoài xă hội sang môi trường mất tự do, họ trở nên sợ hăi vô cùng khiến sự xác định nơi mỗi cá nhân trở nên hoài nghi về mọi thứ, nhất là trong lúc điều tra bị trấn áp khủng bố họ lại càng đa nghi về mọi chuyện, như quà từ gia đ́nh gửi đến thường chỉ qua song cửa sắt và không được gặp trực tiếp người thân, nên họ nghi ngờ có thể là thuốc độc để sát hại họ, nên có người không chịu nhận quà v́ cho đó là của cai tù bỏ thuốc độc để sát hại ḿnh.v.v. Có khi cha mẹ đến thăm họ cho là giả, mới nghe tên chưa được gặp họ đă từ chối v́ cho là sự dối trá của cơ quan điều tra.

-Tù nhân Huỳnh Th́, án hai mươi năm, tuổi chưa đến ba mươi, sau một thời gian ở tù, đă từ chối gặp gia đ́nh khi có người thân đến thăm, anh nói thật t́nh trong sự đáng thương: Tôi không c̣n người thân nào cả, đừng lừa dối tôi... Tôi không c̣n người thân nào cả. Thật sự người tù bất hạnh nầy đă trở nên bất b́nh thường và sau đó đă mang chứng tâm thần rất nặng trong tù.

 

-Hoang tưởng gán ư: người bệnh tri giác các hiện tượng, sự việc xung quanh như là dấu hiệu tượng trưng, có ư nghĩa riêng biệt đối với họ. Trên đường đi gặp một cái hố th́ họ cho rằng hố là tượng trưng cho cái huyệt chôn người và báo hiệu rằng họ sẽ chết trong một ngày gần đây.

Hoang tưởng gán ư khác với hoang tưởng liên hệ là nó được xây dựng trên hiện tượng và sự việc đó như một dấu hiệu tượng trưng chứ không liên hệ suy đoán theo một lô gích lệch lạc như trong hoang tưởng liên hệ.

Hoang tưởng gán ư thuộc loại hoang tưởng cảm thụ, c̣n hoang tưởng liên hệ thuộc loại hoang tưởng suy đoán.

Cụ thể:

-Tù nhân Lê văn Ba, tuổi năm mươi, án trên mười lăm năm, khi đi ngang qua cái hố th́ nghĩ cái huyệt và bảo sợ có người sắp chết v́ như trại Thung lũng tử thần có giai đoạn ngày nào cũng có vài người chết, phần lớn là tù h́nh sự; thấy cây ngă th́ bảo thế nào cũng có tù bị đánh v́ thật sự ngày nào lúc nào các tù cũng bị đe dọa bị cùm kẹp.

-Tù nhân Nguyễn văn Nuôi, án mười lăm năm, tuổi ba mươi, sau một thời gian ở tù lâu dài vẫn c̣n nhớ đến chuyện đánh số đề từ ngoài xă hội như thấy con số 3,4,5... đều nghĩ đến những con số liên hệ, và thật sự khi các tù nhân được tự giác, một số đều tham gia vào tṛ chơi cờ bạc nầy, thậm chí có người c̣n trong trại giam vẫn chơi qua trung gian các tù tự giác hoặc cán bộ cai tù mua số hộ.

 

-Hoang tưởng đóng kịch (c̣n gọi là hoang tưởng đổi dạng). Người bệnh tri giác xung quanh như những cảnh trên sân khấu, trong phim ảnh, trong kịch trường... cùng một người nhưng khi đóng vai nầy vai khác, người nầy thay đổi vị trí cho người kia và hoàn cảnh chung quanh cũng biến đổi không ngừng.

Cụ thể:

-Ra khỏi nhà là phải mang mặt nạ, thế nhưng với các tù nhân thời không chỉ có một mà nhiều mặt nạ, ngay với các bậc chân tu dù không nói láo được th́ giữ sự yên lặng, hà tất không thể nói thật và đó là sự khôn ngoan. Chính sự đóng kịch giữa cai tù và tù nhân cũng như giữa tù nhân với cai tù, nó như định luật muôn thuở. Người ta đặt sự tồn tại của con người trên sự tin cậy lẫn nhau, nhưng nơi đây con người tồn tại trên sự không tin tưởng lẫn nhau.

-Linh mục Liên bị điên thật và ai cũng nhận ra như thế, các cán bộ tù cũng nhận ra điều nầy nhưng bảo tin vị Linh mục nầy bị điên thật để đặt bút kư cho tại ngoại chữa trị th́ không giám thị nào chịu làm và cũng không cho đi bệnh viện để khám nghiệm. Nguyên nhân sâu xa v́ các cai tù vẫn chủ quan nghĩ rằng căn bệnh của tù nhân nếu có chỉ là một sự hoang tưởng đóng kịch.

 

-Hoang tưởng biến h́nh bản thân: Họ cảm thấy có thể ḿnh đă biến h́nh thành h́nh chim, h́nh thú vật hay cây cỏ. Hoang tưởng nầy thường kèm theo với loạn cảm giác bản thể, ảo giác giả và liên quan với hoang tưởng bị chi phối.

Cụ thể:

-Tù nhân Nguyễn văn Đỏ, án chung thân, tuổi bốn mươi, sau giờ lao động thường anh ta ngồi một chỗ nh́n trời, các bạn tù hỏi anh về những lúc ấy anh cho biết: những lúc ấy tôi biến thành chim bay đi khắp muôn phương cùng các tiên thánh.

-Tù nhân Nguyễn văn Sồi, án hai mươi năm, tuổi trên năm mươi, sau thời gian bị giam giữ lâu dài, ông bị đột quỵ tê liệt một nửa thân người, thường kể về những giấc mơ biến thành cây cỏ của ḿnh như một linh cảm sự đi xa măi măi về hư vô của chính ông .

-Hoang tưởng kỳ quái cấp: người bệnh như đang sống trong một cảnh kỳ dị lạ lùng trong một thời gian ngắn. Họ như đang đứng giữa cuộc đấu tranh của hai phe, hai lực lượng. Thắng lợi của bên này hay bên kia phụ thuộc vào hành vi tác phong của họ. Các sự kiện đều có hai ư nghĩa, người đàn ông đang nói chuyện với họ vừa là bác sĩ vừa là gián điệp. những người chung quanh vừa tham gia vào trận xung đột, vừa là nạn nhân của trận xung đột đó, nơi họ đang đứng vừa là trại giam vừa là chiến trường. Tâm trạng họ vừa sợ hăi vừa thích thú.

Cụ thể:

-Các tù nhân khi đi khám bệnh tại bệnh xá trại giam đều có tâm trạng chung: họ vừa nh́n các thầy thuốc vừa là bác sĩ đang chữa trị cho họ, song cũng là những người thay cán bộ cai tù để theo dơi họ, thật vậy có rất ít thầy thuốc bảo vệ quyền lợi cho tù nhân trong tù, v́ nếu họ đứng ra bênh vực các bạn tù th́ sẽ không bao giờ được làm ở bộ phận y tế, vai tṛ chính của các bác sĩ trong tù là t́m ra bệnh giả sẽ có công trạng hơn là công việc chữa trị.

-H́nh ảnh của Bác sĩ Nhiếp, Bs Châu luôn trong tâm trí của các tù nhân đă qua trại Thung lũng tử thần, v́ hầu như công việc chính của họ không phải để cứu giúp con người, nhưng để t́m ra những virus chống lại chế độ c̣n tồn tại nơi mỗi tù nhân để tiêu diệt họ, và điều tồi tệ cũng không phải v́ lư tưởng nào cả mà v́ để họ được sống trên sinh mạng cùng cái chết của người khác.

            -Hoang tưởng kỳ quái kéo kéo dài: loại hoang tưởng nầy có nội dung khuếch đại với tính hưng cảm. Người bệnh cho ḿnh nắm quyền cai quản thế giới, lănh đạo toàn thể địa cầu, xây dựng hạnh phúc cho tất cả mọi người, thông minh rất mực, sáng tạo các qui luật tự nhiên và các tác phẩm khoa học nghệ thuật lớn. Hoang tưởng nầy thường kèm theo cảm xúc hưng phấn, sắc thái vui vẻ và hay gặp trong hội chứng paraphremie cấp và trong bệnh liệt tiến triển.

Hoang tưởng kỳ quái kéo dài có thể có nội dung phủ định với cảm xúc buồn rầu thường gọi là hội chứng Cotard, người bệnh tự cho ḿnh mắc tội nặng nề, phải chịu một cảnh hành h́nh khủng khiếp, họ cho rằng tim, phổi ḿnh bị hư hỏng cả, ruột gan thối nát, các phủ tạng biến mất. Người bệnh cho rằng nhà cửa , thành phố bị sụp đổ tan hoang, ngoại cảnh điêu tàn, tất cả những người thân đều chết và họ đau khổ triền miên. Có thể gặp trong tâm thần phân liệt.

Cụ thể:

-Trong sinh hoạt hằng ngày có dạng tù nhân thuộc loại nầy, sự hưng phấn của họ liên tục hầu như không có sự kiềm chế như khi có một nguyên nhân nào dù rất nhỏ họ cũng cười thật lớn vang cả pḥng giam, sự hoang tưởng kỳ quái nầy thường kéo dài với mỗi tù nhân trong trạng huống nầy có khi kéo dài rất lâu, nhiều khi các bạn tù khác trong sự thân mật nhắc khéo họ về sự hoang tưởng nầy nhưng dường như nó trở thành cố tật với các tù nhân sau một thời gian dài bị cách ly với xă hội.

-Tù nhân Vơ văn Ánh, Nguyễn văn Trận... Họ thuộc nhóm nầy, luôn than văn trầm buồn và cho rằng người thân đă chết hết, mặc dù có thể vẫn c̣n nhưng do mất liên lạc, mọi quan hệ với người thân xem như đă hỏng hết... và chính họ đôi khi than phiền cơ thể ră rời do gan tim cật đă bị hư hỏng... Nhưng thật sự chỉ là hoang tưởng, tất cả vẫn c̣n, tất nhiên không c̣n tốt trong một môi trường quá khắc nghiệt.

 

2.3 Ám ảnh: là những ư nghĩ, hồi ức, nghi ngờ, hành vi và động tác... không phù hợp với thực tế, xuất hiện trên người bệnh với tính chất cưỡng bức. Người bệnh ư thức được đó là do bệnh tật, biết đó là sai, t́m cách xô đuổi nhưng không sao thắng được. Đó là điều khác nhau giữa hoang tưởng và ám ảnh.

            Ám ảnh có khi xuất hiện riêng rẽ, có khi kết hợp với nhiều ám ảnh khác để thành ra hội chứng ám ảnh. Có các loại ám ảnh như sau:

             Ám ảnh trừu tượng: Là loại ám ảnh không kèm theo nội dung làm cho người bệnh lo sợ. Đó là loại suy nghĩ vẫn vơ, ám ảnh tính toán, ám ảnh suy luận, ám ảnh nhớ lại.

            Cụ thể:

            -Các tù nhân thường có những giấc mơ rồi la lớn vào ban đêm, họ nhớ lại những sự tra tấn dă man mà họ phải chịu nhục h́nh trong thời gian hỏi cung, hoặc những trường hợp c̣n sống sót sau khi trốn trại. Họ nhớ lại những nỗi kinh hoàng những lúc bị bỏ đói phải ăn cả chăn màng, và điều kiện vệ sinh phải vừa ăn vừa đi cầu trong một cái bát.

            -Tù nhân Trần văn Phước, án trên mười lăm năm, tuổi ba mươi, trốn trại bị bắt lại bị đánh đến gần chết rồi bị mang ra phơi nắng trước cổng trại giam để mỗi cán bộ khi đi ngang qua mà tỏ lập trường giai cấp, mỗi người cứ đấm thoi vào tù nhân đang bị hấp hối, về sau khi hết thời gian bị kỷ luật và may mắn sống sót trở về pḥng giam, đêm nào anh cũng thường có những giấc mơ kinh hoàng.

 

            -Ám ảnh tính toán:Người bệnh luôn luôn bận tâm đến tất cả những bậc thang, những cửa sổ của mỗi nhà, những cột điện, những chữ cái trên các tấm biển.

            Cụ thể:

            -Tâm trạng nầy thường hay gặp đối với các tù nhân đang bị giam giữ nơi nhà kỷ luật kiên giam, suốt ngày nằm đếm những con thằn lằn chạy qua lại trên trần nhà, đếm chung quanh chỗ nằm của ḿnh có bao nhiêu viên gạch, có bao nhiêu vết máu do muỗi đốt c̣n dính lại trên tường, cùng bao nhiêu chữ kư của những người đă từng qua nơi họ đang nằm.

            -Tù nhân Trần văn Trang, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, thường xuyên lẩm nhẩm và đếm đi bao nhiêu bước từ cổng trại đến hiện trường lao động, quanh trại có bao nhiêu cây dừa, bao nhiêu hàng rào kẽm gai.v.v. Ông thường nói làm như thế để bộ năo của ḿnh nó làm việc, nếu không sẽ bị lú lẫn.

 

:           -Ám ảnh suy luận: người bệnh bắt buộc phải suy nghĩ v́ sao quả đất lại tṛn, chuyện ǵ sẽ xảy ra nếu như quả đất h́nh vuông...

            Cụ thể:

-   Các tù nhân đều có suy nghĩ trong cảnh đời lao lư đầy nhục h́nh: Tại sao người Mỹ lại bỏ chúng ta, do các công dân Hoa kỳ không c̣n nhẫn nại khiến Quốc Hội Hoa kỳ đi đến quyết định không giúp miền Nam nữa, hay đă đến lúc vào thời điểm đó người Mỹ đă đạt được mục tiêu nào đó như ở Trung quốc chẳng hạn, hay chính chúng ta v́ quá tham nhũng thối nát trong vấn đề viện trợ khiến người Mỹ nản ḷng, thế rồi sẽ có nước nào là Đồng minh của Mỹ cũng có lúc bị bỏ rơi như những người Việt Nam Tự do hay không.

-   Nhiều tù nhân trong suy luận rằng: Người Mỹ không bỏ chúng ta, Họ sẽ trở lại nhưng trong cách khác, người Mỹ không có thua cuộc, chỉ có chúng ta mới bị hoang tưởng về điều đó, những người miền Nam mới là người thua cuộc v́ sự mục rữa từ bên trong của cơ chế đầy những quan chức tham ô, khiến quân đội và các công dân mất niềm tin; và miền Bắc mới càng thua đậm, họ đă và sẽ không thắng được chính ḿnh từ sự tự cao, tự đại một cách hoang tưởng của những con người với những hoàn cảnh tha hoá khác nhau và cùng vào Lương sơn bạc: số người tốt không đủ để cầm cương với những con ngựa bất kham vốn được chiêu dụ từ những thành phần có bản chất h́nh sự cướp giựt rất thích hợp cho việc đánh cướp chớp nhoáng của du kích, nó lại càng thích hợp hơn khi lao ḿnh vào đấu tranh giai cấp không khoan nhượng, không t́nh người mà bản chất h́nh sự rất thích hợp trong vai tṛ nầy. Khi hoà b́nh lập lại, vốn ngựa quen đường cũ: từ thượng tầng đến hạ tầng đều là cách ở Lương sơn bạc, những con người quen cướp giựt nay nắm chính quyền lại có cơ hội tham ô nhũng lạm hợp pháp... Nên xét về đại thể dân tộc Việt Nam thua và sẽ thua nếu không nhận ra và kịp thời một sự khởi đầu mới.

 

            -Ám ảnh nhớ lại: người bệnh luôn luôn phải nhớ trái với ư muốn của ḿnh như tên họ, quê quán, tuổi của nhiều người, cũng như những thuật ngữ khác nhau.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn văn Thiền, án trên mười lăm năm, tuổi ngoài bảy mươi, cụ thường xuyên đọc lại tên, họ của ḿnh, bao nhiêu tuổi, tên các con, tên vợ là ǵ... v́ theo cụ phải làm thường xuyên như thế để khỏi bị mất trí nhớ... Một đôi khi có ai gọi, v́ chưa thích nghi kịp nên trả lời ngay chính những điều đang nghĩ.

            -Các tù nhân có tôn giáo th́ thường lần hạt v́ đó là cách vừa cầu nguyện vừa khiến trí óc ḿnh làm việc, ngoài ra có người c̣n tin rằng mỗi bài kinh là một phát đạn bắn vào cộng sản vô thần.

 

             Ám ảnh cảm thụ: là loại ám ảnh cảm xúc mà nội dung làm cho người bệnh lo sợ, buồn rầu, đau khổ.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn văn Liễn, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, sau một thời gian cải tạo bị mắc chứng lao phổi nặng, thường trầm buồn, ít nói, lo sợ nhiều về cái chết sẽ xảy ra đối với anh ngay trong trại giam không kịp về với gia đ́nh.

            -Tù nhân Nguyễn văn Đồng, án mười lăm năm, tuổi bốn mươi, vui vẻ khi khi gặp anh em, thích tâm sự nhưng chỉ nói về nỗi buồn cùng sự đau khổ của ḿnh khi phải xa cách xa đ́nh quá lâu, về sau anh phát bệnh với một ung nhọt nhỏ nhưng không được điều trị thích đáng nên nhiễm trùng và chết.

 

            -Ám ảnh sợ (phobia). Có rất nhiều loại ám ảnh sợ, mặc dù người bệnh biết tính chất vô lư và t́m cách khắc phục, nhưng ám ảnh nầy vẫn trở đi trở lại.

            Cụ thể:

            -Sợ khám xét cá nhân, sợ khám xét chung, sợ chuyển trại, sợ chuyển pḥng, sợ bị cúp thăm nuôi, sợ không được nhận thư và gửi thư, sợ bị kêu làm việc với cán bộ an ninh, sợ kỷ luật, kiên giam... đủ mọi nỗi sợ v́ các tù nhân bị khủng bố liên tục cho đến chỗ chết, và cái xác chết cũng trở thành thứ phương tiện để dùng làm sự trấn áp, răn đe những tù nhân c̣n sống như với các tù nhân trốn trại bị bắn chết thường được chôn rất cạn, để mùi hôi thối bốc lên hầu răn đe những tù nhân c̣n lại mỗi khi đi ngang qua.

            -Tù nhân Trần văn Nghĩa, án mười lăm năm, tuổi ba mươi, ngoài những nỗi ám ảnh sợ như trên, anh c̣n sợ “nhóm thanh trừng” trong trại giam, họ gồm vài tù nhân cực đoan hay gây gổ và xông vào đánh các bạn tù được đi rộng bên ngoài với lư do thanh trừng tù chính trị thoái hoá, như ra ngoài rồi buôn bán đổi chác, có lẽ theo quan niệm của những người cực đoan nầy: tù chính trị không được làm kinh tế, không được yêu... những người nầy khi trở về, có một giai đoạn ở trại Xuân Lộc thuộc miền Nam, các giám thị đă bỏ mặc để cho chúng gây mâu thuẩn giết nhau, khiến trong trại giam vào những ngày nghỉ thật hỗn loạn: vài người trong nhóm thanh trừng nhân danh chính nghĩa? tấn công vào các bạn tù khác cho dù người đó đă chịu hơn cả chục năm trong lao lư khiến sau đó đều lâm trọng bệnh. Người ta chứng kiến riêng anh Nghĩa bị đánh dường như đến hơn ba lần khác nhau v́ lư do nhỏ nhặt ở bên ngoài, khiến anh vốn là một tù nhân không có thăm nuôi suốt hàng chục năm đă ốm yếu thành người như tàn phế sau đó... Nhiều tù nhân suy nghĩ nếu đất nước mà rơi vào những con người tâm thần bất an và đầy sự cực đoan nầy sẽ như thế nào.

 

            -Ám ảnh sợ khoảng rộng (agoraphobia)

Cụ thể:

-Tù nhân Trần minh Nguyệt, án mười lăm năm, tuổi bốn mươi, một kỹ sư, sau một thời gian dài lao lư, khi chuyển về một trại ở miền Nam, anh được tự giác, lúc trở về trại giam cũng bị trấn áp của nhóm cực đoan, khiến anh bị ám ảnh hơn về một xă hội - theo tâm sự - mà anh đang đi t́m rộng lớn hơn ở bên ngoài xă hội. Anh bị nghi có quan hệ với một thiếu nữ, nhưng không ai có bằng chứng và nếu có bằng chứng th́ giám thị đă không cho tự giác thậm chí c̣n kỷ luật là đàng khác.                                     

-Chung quanh các trại giam thuộc miền rừng núi có nhiều mương rẫy, đất đồi được khai hoang và trồng trọt, ở những nơi đó đều có dựng cḥi và các tù nhân dù án cao nhưng đă ở lâu năm, nhất là tuổi cao được bố trí đến ở các nơi đó để canh thú rừng vào ban đêm; và thường chỉ sau một thời gian ngắn những tù nhân nầy bị sốt cao, họ sẽ được trở lại trại giam qua sự xác nhận của y tế, song người nào khi trở về cũng trong bệnh hoạn cùng nỗi ám ảnh về cái khoảng rộng mênh mông ở thế giới bên ngoài. Đặc biệt phần lớn các trại giam, nếu muốn được sắp xếp vào vị trí giữ cḥi, hà tất phải đút lót cho cán bộ cộng sản rất nhiều.

 

-Ám ảnh sợ chiều cao:(hypsophobia).

Cụ thể:

-Hầu hết các nhân vật có tầm cở khi vào tù đều mắc chứng nầy, chiều cao ở đây là những ảnh hưởng vốn có từ ngoài xă hội, thật vậy họ luôn bị theo dơi ŕnh rập của cai tù và có thể bị đưa vào kiên giam bất cứ lúc nào. V́ sinh mệnh của họ bị đe doạ thường xuyên nên các tù nhân luôn tự an ủi bằng câu: Trời kêu ai nấy dạ.

-Tù nhân Cao khắc Vĩnh, án trên mười lăm năm, tuổi năm mươi, nguyên là Hiệu trưởng một trường Cao đẳng Sư phạm trước đây, ánh mắt ông như luôn đăm chiêu trầm lắng, không một động tác nào của ông mà không bị theo dơi, may mắn cùng sự thận trọng đă cứu ông. Một người bạn cũng Giáo sư Đại học, h́nh như cùng tổ chức với ông, ông Trương Phúc Đức đă bị kiên giam đến chết, và tuổi cũng chỉ khoảng năm mươi; một người khác nhà giáo Lưu Kỉnh đă không khuất phục trước kẻ thù, không van xin trong cơn đau bao tử đến lúc chết ngay tại pḥng giam, án chung thân. Quả thật Thầy Cao đă đóng vai thật khôn ngoan trong nỗi ám ảnh về sự ảnh hưởng vốn có của ḿnh từ ngoài xă hội: Ông đă chết trước khi bị giết chết và may mắn c̣n sống sót.

 

-Ám ảnh sợ chỗ đóng kín (claustrophobia).

Cụ thể:

-Trong cuộc hành tŕnh của những ngày lao cải, thường ai cũng trải qua những ngày bị giam kín cách ly trong pḥng tối để khai cung, căn pḥng cacho nhỏ và thật nhỏ ấy, nó giống như một cái huyệt chôn người sống, bên ngoài với nhiều lớp tường bao bọc, không có ánh sáng, các tù nhân đưa bàn tay ḿnh lên song không thấy ǵ cả, hằng ngày nhận được hai cục cơm trưa và vắt lại bằng quả trứng vịt nhưng không biết nó có màu ǵ, nhiệt độ ban ngày không dưới bốn mươi độ C... Nên những ai khi rời khỏi nơi nhà kỷ lụât nầy đều mang nỗi ám ảnh sợ cái không gian bé nhỏ giết người đó mà không biết những người đấu tranh cho Hoà b́nh xanh có bao giờ đă từng quan tâm đến.

-Tù nhân Trần văn Sơn, một tù nhân tuổi ba mươi bị điên trong tù, khi lên cơn anh bị kéo lê lết ṿng quanh trại giam để nhốt vào nhà kỷ luật, trên đường bị lôi đi dù trong cơn điên anh vẫn c̣n bị ám ảnh về cái khoảng không gian kinh hoàng đó: -Xin đừng mang tôi vào đó... Cái ḷ hoả thiêu, nóng, nóng lắm... Hăy giết tôi đi... Đừng mang tôi vào chỗ kín đó.

 

-Ám ảnh sợ người (anthrophobia).

Cụ thể:

-Đây là tâm trạng chung của các tù nhân khi mới bị bắt từ ngoài xă và được đưa vào pḥng giam tập thể, mỗi pḥng không đầy năm mươi mét vuông nhưng chứa đến cả trăm con người, căn pḥng chừng một trăm mét vuông th́ chứa trên hai trăm người... Điều thứ nhất mà ai cũng nhận ra sự khác thường là TẤT CẢ ĐỀU Ở TRUỒNG v́ nhiệt không dưới 45 0C. Mắt người nào cũng đỏ hoe, mồ hôi th́ chảy như tắm, sự gây gổ, đánh cải chửi nhau xảy ra liên tục trong pḥng do môi trường quá nóng khiến tính khí con người trở nên bất thường. Các tù nhân khi rời khỏi loại pḥng giam tập thể nầy sẽ luôn mang theo nỗi ám ảnh sợ người như mùi nồng sặc của con người tiết ra, và trong căn pḥng cả trăm con người ấy chỉ có một nhà cầu, những kẻ bị bệnh lậu, giang mai từ ngoài xă hội dù được dồn lại một góc nhưng mủ của bọn chúng chảy ra bốc lên tanh hôi khiến ai đến gần cũng muốn ói. Cao điểm của các loại pḥng nầy là vào những năm 1977,1978,1979... cùng những năm 1980, khi phong trào bỏ nước ra đi lên cao điểm và nhiều người bị bắt lại.

- Tù nhân Lê văn Tám, án trên mười lăm năm, tuổi ngoài năm mươi, sau gần chục năm lao cải ở trại Xuân Phước c̣n gọi là Thung lũng tử thần, ông từng bị vào Nhà Đỏ -nhà kỷ luật của trại nầy, ông bị chứng áp huyết cao, có lần bị xuất huyết đường ruột suưt chết. Sau đây là suy nghĩ của riêng ông và cũng là của rất nhiều người khi qua trại nầy: Bọn chúng c̣n quá trẻ tuổi chưa đến ba mươi, toàn là từ miền Bắc mới đưa vào, nhưng không biết ác sao mà ác thế, tôi cũng là người miền Bắc - ông nhấn mạnh - chưa bao giờ thấy chúng tha cho một ai dù là chỉ vi phạm nhỏ, chuyên ghép tội và bắt các tù nhân nhận tội, nếu không chúng dùng roi điện quất cho đến đầy thương tích mới thôi. Chúng không có nụ cười, con ngươi của chúng như chỉ có mỗi tṛng trắng mà thôi... Trong sự ám ảnh nên ông có cái nh́n như thế, quả thật v́ bọn cán bộ trẻ nầy hay trừng con mắt để làm uy nên chỉ thấy ḷng trắng nhiều hơn. Ông kể lại khi chúng cùm tréo tay ông ôm ngược vào thân cây, ḷng ngực ông muốn xé ra đau đớn vô cùng, nước mắt ông chảy v́ đau cho dù cố gắng chịu đựng, chúng c̣n thoi đá vào người và bảo tại sao lại khóc, dù chúng chỉ đáng tuổi con cháu trước người già cả. Những thao tác của chúng giống như một đồ tể với mục đích cuối cùng là làm cho con người không cùng giai câp phải chết, nếu có cùng gịng máu đi nữa nhưng khác lập trường giai cấp thời phải chết. Câu đầu của Tam đoạn luận: Làm người phải chết và bây giờ tại Việt nam: Không cùng giai cấp phải chết.

 

-Ám ảnh sợ cô đơn (monophobia).

Cụ thể:

-Sinh hoạt nơi các trại lao động khổ sai có nét chung, giờ thảnh thơi nhất trong ngày có lẽ là khoảnh khắc thời gian trước giờ điểm danh buổi chiều để bị nhốt “vào chuồng” ban đêm. Trước ít phút điểm danh đó, các tù nhân thường đổ ra các hành lang để trao đổi tṛ chuyện với nhau, giống như những chú cừu trong đàn cừu cần sưởi ấm cho nhau. Ai ai cũng t́m người tâm sự để được nói hay được lắng nghe, đúng hơn là tránh nỗi ám ảnh cô đơn trong thời gian bị cách ly xă hội lâu dài.

-Tù nhân Nguyễn văn Chơn, án mười lăm năm, tuổi năm mươi, đảm trách công việc của một bệnh xá, luôn có người bên cạnh, bề ngoài vui vẻ và giúp đỡ rất nhiều người trong việc chữa trị, nhưng lúc nào tâm sự với ai cũng nói lên nỗi ḷng của ḿnh rất cô đơn, trống vắng do xa cách gia đ́nh quá lâu dài.

 

-Ám ảnh sợ ung thư (cancenophobia).

Cụ thể:

-Tù nhân Lê văn Hiển, án hai mươi năm, tuổi bảy mươi, cùng chung vụ với các Linh mục Ḍng Tên Việt Nam do thời gian lao cải lâu dài và nằm nhà kỷ luật khá lâu khiến cụ bị tháo dạ thường xuyên và cụ luôn ám ảnh về ḿnh có thể bị ung thư đường ruột, về sau cụ bị chết do các biến chứng từ đường ruột và không biết có phải là ung thư thật hay không.

-Tù nhân Nguễn văn Chuyển, án hai mươi năm, tuổi gần bảy mươi, trông cụ rất mạnh khoẻ nhưng lại luôn ám ảnh về chứng ung thư như hơi đau bụng một tí là cụ than có thể đường ruột bị hư, có một tí mụt nhọt cụ cũng đầy lo lắng... Chính v́ trong một trường quá khắc nghiệt khiến cụ bị ám ảnh mọi thứ, cũng từ sự sợ hăi quá mức nên cụ nổi tiếng trong việc đút lót cán bộ thậm chí nghe tiếng đồn từ rất nhiều tù nhân ông c̣n nhận một nữ cán bộ làm con nuôi, trong khi đối với các bạn tù th́ rất dè sẻn từng tí một... V́ theo ông chỉ có cán bộ mới sẽ đưa ông đên nơi chữa trị ung thư... mà đúng là ung thư tâm thần.

 

-Ám ảnh sợ chết (thanatophobia).

Cụ thể:

-Tù nhân Trần văn Phùng, án trên mười năm, tuổi ngoài năm mươi, mặc dù bề ngoài rất vui vẻ, gặp ai cũng chào hỏi, song trong ông luôn mang nỗi âu lo sợ hăi về cái chết, ông thường tâm sự: Trong tù dễ chết quá, tất cả mọi nẻo đường từ vệ sinh ăn ở sinh hoạt, nhất là cách cai trị của các cán bộ đều nhằm đưa đến cái chết và sau rốt họ chỉ mất tờ giấy khai tử.

-Tù nhân Thái văn Mân, án chung thân, tuổi ngoài sáu mươi, luôn nghĩ đến đoạn đường dài đă trải qua, rồi những ngày sắp đến với tuổi già mà sự giảm án hầu như nhỏ giọt khiến luôn băn khoăn: không biết sẽ có ngày về với gia đ́nh hay không, hay là về với ông bà trước rồi gia đ́nh sẽ bay về sau. Nhất là dù tuổi cao nhưng đă bị đánh đập rất nhiều lúc bị bắt tại địa phương, hậu quả suốt những ngày trong tù ông mắc nhiều chứng nan y như đường ruột, tim mạch, suyễn, phổi.

 

-Ám ảnh sợ vật nhọn (aichmophobia).

Cụ thể:

-Có lẽ điều ám ảnh nầy dành cho phía cán bộ cai tù nhiều hơn cả đến nổi họ nghiêm cấm các tù nhân không được giữ bất cứ vật bén nhọn nào, và công việc kiểm tra hầu như xảy ra thường xuyên tại nơi ăn ở của tù nhân cũng như chung quanh. Hậu quả của những vụ trấn áp với lư do không được dùng các vật bén nhọn nầy đă dẫn đến không biết bao tù nhân bị vào nhà kỷ luật, v́ trong sinh hoạt hằng ngày không thể không có các vật bén nhọn như dao, các vật cắt để chế biến thức ăn. Trong nỗi ám ảnh nầy v́ các cai tù phải lo cho chính bản thân của họ, các giám thị trại giam sợ nhất là những cuộc bạo loạn mà đối tượng đầu tiên bị nhắm đến trước tiên chính là các cai tù, đàng khác để trật tự trong trại giam được ổn định. Một khi các tù nhân lương tâm bị mang đi giấu, nhốt chung với tù h́nh sự như có lần tại trại Xuyên Mộc, mọi người đều chứng kiến vào mỗi trưa đề thường xảy ra cảnh thanh toán nhau giữa các nhóm, các đại bàng, chúng dùng dao nhọn hay vật nhọn đâm ngay vào tim của đối thủ khiến chết ngay tại chỗ là chuyện b́nh thường.

-Tù nhân Nguyễn văn Hường, án hai mươi năm, tuổi trên bốn mươi, nguyên văn: -Có những lúc lưỡi lê ṇng súng nó làm cho ḿnh sợ hăi, nhưng đến một lúc nào đó th́ nó không là ǵ cả, anh đă bị chúng biến thành một con người c̣n đó nhưng với ánh mắt thẩn thờ, tấm thân khô đét lại đầy bệnh hoạn, cán bộ chấp cung đă dùng các vật nhọn để thụi, đâm thọt vào người tù nhân nầy.

 

-Ám ảnh sợ tất cả (panphobia).

Cụ thể:

-Đây là tâm trạng chung của các tù nhân, chỉ có rất ít và có lẽ cũng chỉ có một hai người là không biết sợ khi chẳng may vào các trại tập trung cộng sản, và người mà ai cũng rơ trong đấu tranh cho quyền của con người là Linh Mục Nguyễn văn Luân và ông đă đi đến cái chết. C̣n tất cả đều mang nỗi ám ảnh sợ đủ thứ... nghĩ đến sự thất bại cuối cùng đến cái chết vẫn c̣n sợ, như ít ra là sợ bị chôn cạn làm hoen ố môi trường.

-Tù nhân Nguyễn văn Mậu, án chung thân, tuổi ngoài bảy mươi, thật tội nghiệp mỗi khi nghe có cán bộ đến, hoặc gọi cụ đi làm việc là tay chân cụ run bấn cả lên. Môi cụ run run nói lên nỗi ám ảnh dù cái chết với cụ đă rất gần do tuổi cao, nhưng chính môi trường với những con người dă tâm khủng bố khiến già trẻ đều sợ: Tất cả họ đeo theo ḿnh ám ảnh sợ hăi không phải về cái chết v́ ai nấy thật sự đều không sợ cái chết, xem cái chết nhẹ như tơ hồng nên mới dám chống lại cộng sản, nhưng nỗi ám ảnh sợ thật sự đó là: cái chết được trải ra và những kẻ đứng ra hành quyết con người lấy làm khoái sướng, họ là con người thật có nhân tính, song nhân tính ấy nay được trang bị bằng mệnh đề: Kẻ thù giai cấp phải chết. Tất cả chúng ta sống gần họ nhiều khi thấy họ rất dễ mến là đàng khác, v́ thật sự nó chỉ khác cái nọc nằm ở đuôi.

 

-Ám ảnh  lo sợ thực hiện: Các tù nhân lo sợ ám ảnh biến thành sự thực như lo sợ mất ngủ và mất ngủ thật.

Cụ thể:

-Tù nhân Nguyễn văn Rở, án chung thân, tuổi ngoài năm mươi, ông thường tâm sự: Tôi rất sợ mất ngủ và thường xuyên mất ngủ thật... lư do hay nghĩ vẫn vơ về mọi thứ, những ư tưởng cứ đến liên tục và cứ thế cho đến gần sáng nới chợp mắt được.

-Nguyễn văn Răng, án hai mươi năm, tuổi trên năm mươi, ông cho biết đêm nào cũng không ngủ được, mặc dù rất sợ mất ngủ và cố gắng ngủ, nhưng đêm nào cũng đến gần sáng mới chợp mắt được. Nó giống như ở kiên giam vậy chỉ ngủ vào ban ngày c̣n ban đêm th́ thức.

 

-Ám ảnh hồi ức: Tù nhân trong trạng huống nầy hay nhớ lại một sự kiện hết sức khó chịu, một sự đau khổ trong quá khứ làm cho họ xấu hổ, hối hận và cố gắng quên đi nhưng không sao quên được.

Cụ thể:

-Tù nhân Trần văn Trang, án mười lăm năm, tuổi năm mươi, luôn ám ảnh và nhớ lại cuộc nổi dậy đào thoát bị thất bại khiến ông từ tập trung lên án cao, và trở nên trầm uất v́ nay tuổi đă cao khó mà thực hiện việc đào thoát được nữa. Những hơi thuốc lào thật dài như đưa tù nhân nầy vào quên lăng những nhọc nhằn, tủi nhục, đau đớn, kỷ luật kiên giam bị đánh đập tàn nhẫn đến bản án lâu dài.

-Tù nhân Nguyễn văn Cá, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, trầm uất, anh luôn mang nỗi ám ảnh sau vụ bạo động trốn trại thất bại, đó là khi việc đào thoát không thành anh đă quay lưng lại các bạn tù đang đào thoát bằng những câu: Cứu tôi với cán bộ, bọn chúng đă ép buộc tôi... Cho dù có kêu cứu và lập công khai báo để chuộc tội nhưng bọn cai tù cũng không tha cho anh, chúng tiếp tục tăng án cao và chuyển đến trại Thung lũng tử thần.

 

-Ám ảnh nghi ngờ: Tù nhân rơi vào t́nh huống nầy hay nghi ngờ các sự việc đă làm không biết có quên thực hiện hay không, như phân vân không biết đă phủ kín chiếu chỗ nằm hay chưa khi ra khỏi pḥng giam, soát đi soát lại các phép tính đă làm, thư đă dán phong b́ rồi bốc ra dán lại nhiều lần v́ nghi ngờ không biết có gửi đúng hay không. Sự kiểm tra nhiều lần cũng không làm người bệnh yên tâm và buộc họ phải tiến hành kiểm tra một cách liên tục.

Cụ thể:

-Các tù nhân thường mắc chứng nầy nghi ngờ đủ mọi thứ như khi ra khỏi pḥng họ hay làm dấu ở chỗ nằm để xem khi trở về có bị mất dấu hay không, hầu suy đoán có đang bị theo dơi hay không, nhất là trước lúc ra đi luôn xem những vật cần dấu kín đă cất đúng chỗ hay chưa. Mọi ánh mắt dù ngay của đồng phạm cũng luôn đặt sự nghi ngờ nơi họ.

-Tù nhân Nguyễn văn Đệ, án chung thân, tuổi trên bốn mươi, sự nghi ngờ trong anh đến mức có khi đội ngũ đă xếp hàng chuẩn bị xuất trại mà anh c̣n chạy vào pḥng giam để xem những vật dụng mà có lẽ chỉ chính anh mới biết đă cất giữ theo ư hay chưa... nhờ chức vụ  đội trưởng nên có lư do trả lời vói cán bộ v́ quên sổ sách.v.v.

 

 Khuynh hướng và hành vi ám ảnh :

-Khuynh hướng ám ảnh: Là sự xuất hịên trong ư nghĩ các xu hướng thực hiện một hành vi vô lư và thường nguy hiểm, trái với lẽ phải, trái với ư chí và trái với t́nh cảm.

Ví dụ: Đột nhiên người mang chứng nầy muốn chửi một kẻ qua đường, ném đá vào xe đang chạy, nhảy qua cửa sổ, đâm chết người thân.

Khuynh hướng nầy làm cho bệnh nhân đau khổ và sợ, một phần sợ ḿnh thực hiện cái xu hướng đó, một phần không hiểu tại sao ḿnh có những ư nghĩ quái gở như vậy.

Cụ thể:

-Hành vi quái gở nầy thường thấy xuất hiện nơi các cán bộ quản lư trại giam, mặc dù sinh hoạt trong điều kiện tự do hơn, song như nhiều cán bộ đă phát biểu: Các anh là tù trong, chúng tôi là tù ngoài. Thật vậy dù có điều kiện hơn các tù nhân nhưng với môi trường khắc nghiệt khiến họ cũng bị biến đổi về tâm sinh lư nhất định. Đột nhiên khi đang dẫn tù đi, họ thấy chó th́ chửi chó, thậm chí c̣n ném đá chúng. Có người th́ thích đánh đá các tù nhân suốt dọc đường từ khi xuất cổng trại giam cho đến hiện trường lao động. Có người lại chửi thề thô tục suốt dọc đường đi.

-Tù nhân Nguyễn Lên, án chung thân, tuổi trên bốn mươi, thường nói chửi thề suốt ngày, và mỗi khi nói như vậy, tù nhân nầy sau đó tỏ rơ sự tiếc rẻ, hối hận về điều ḿnh nói, song khoảnh khắc sau đó lại nói tiếp, rồi tỏ ra ân hận tiếp.

 

-Hành vi ám ảnh có 2 loại:

        Hành vi ám ảnh: những động tác thực hiện ngoài ư muốn, ngoài sự cố gắng tự kiềm chế. Đó không phải là những động tác tự động mà là những động tác có ư chí đă thành thói quen khó bỏ được, chúng không kèm theo ám ảnh sợ.

Cụ thể:

-Cán bộ Nguyễn Nên, quản giáo, tuổi ba mươi, mỗi khi gặp nữ cán bộ cùng cơ quan hoặc các cô gái quanh trại giam mà y gặp trên đường đi, y liền phát ngôn những lời thật tục tĩu của giới trụy lạc... một cách thích thú không e thẹn, một số các cán bộ trại giam đều có sự thể hiện của khuynh hướng nầy, ngay cả các trưởng trại có khi c̣n sỗ sàng hơn thế.

-Trưởng trại Nguyễn văn Bàng, tuổi năm mươi, mỗi khi gặp cán bộ nữ, y ăn nói thật thô tục như ngoài những lời chửi thề, gọi phụ nữ là con nầy đĩ kia, cả những lời dùng trong giao phối. Với nam cán bộ th́ y dùng những lời mạt sát như thằng nầy, thằng kia, toàn một lũ ăn hại, ăn bám.v.v. tiếp theo nhau là điệp khúc chửi thề thô tục.

 

 

-Nghi thức ám ảnh: Là những hành vi, những động tác ám ảnh phát sinh cùng với ám ảnh sợ, những nghi ngờ, sợ sệt ám ảnh, có ư nghĩa như để tự vệ, để giải trừ, để thoát khỏi nguy hiểm tưởng tượng.

Ví dụ: người tù có ám ảnh sợ các bạn tù lần lượt ra đi, khi đi ra khỏi nhà kỷ luật, bệnh xá hay nh́n lại đôi ba lần mới yên tâm.

Cụ thể:

-Tâm trạng chung của các tù nhân trong t́nh huống nầy là nghi ngờ có ǵ bất trắc đang xảy ra chung quanh ḿnh, biểu hiện qua các động tác như mỗi khi đi hay  quay nh́n lại, giả vờ cúi xuống sửa dép, hay đánh rơi vật ǵ.v.v. để xem có ai theo dơi ḿnh hay không, nhưng thật ra hầu hết các nỗi ám ảnh đó là do sự tưởng tượng thái quá mà thôi.

-Tù nhân Giang long Quang, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, ánh mắt ông như luôn dáo dát nh́n về phía trước như xem có ai sắp ám hại ḿnh hay không, tù nhân nầy hay nói: tôi đă bị quá nhiều kẻ hại ḿnh từ các du kích, công an địa phương cho đến trại tù cũng chưa yên trong chế độ nầy, nên tôi quá sợ. Bây giờ chỉ c̣n là sự cảnh giác trước cái chết mà thôi.

Trở về đầu trang

 

RỐI LOẠN TRÍ NHỚ.

 

1. Giảm nhớ (Hypomnesia): Đây là sự suy giảm trí tuệ thể hiện qua việc giảm nhớ những sự việc mới xảy ra hay sự việc cũ gặp trong loạn tâm thần tuổi già, liệt tiến triển, loạn tâm thần suy nhược.

Cụ thể:

-Tù nhân Lê Chỉnh, án mười lăm năm, tuổi bốn mươi, anh nói trước quên sau và thật sự như tù nhân nầy thường tâm sự: từ ngày vào tù đến nay trí nhớ của tôi sa sút đi rất nhiều, trong dịp thăm gặp nhiều khi anh không nhớ rơ người thân là ai nữa.

-Tù nhân Hải Đăng, án hai mươi năm, tuổi gần sáu mươi, nguyên là một giáo viên ngoại ngữ, khi vào tù ông bị mù do bị nhốt ở pḥng tối quá lâu, rồi trí nhớ giảm dần, nên hằng ngày ông luôn luyện tập kư ức như tập đọc lại những ǵ mà ông trực nhớ lại, đọc đi đọc lại nhiều lần, theo ông sau đó vẫn quên v́ một là tuổi đă cao và trong điều kiện môi trường thiếu thốn về vật chất cũng như sự khủng bố trấn áp thường xuyên, cụ thể khi mọi người phải lao động khổ sai, ông cùng những người bệnh tật bị đưa đi nhốt ở một pḥng riêng khác với những lời đe doạ, chửi bới làm nhục như nào là thành phần ăn bám, trốn lao động.

 

         2.Tăng nhớ (Hypermnesia): người tù trong t́nh huống nầy nhớ lại những sự việc rất cũ, cả những sự việc không có ư nghĩa hay những chi tiết vụn vặt tưởng không thể nào nhớ được, gặp trong trạng thái hưng cảm.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Đinh văn Hoạt, án chung thân, tuổi năm mươi, nguyên là một giáo viên và theo lời ông đă từng hợp tác với người Mỹ trước đây, ông hay kể về những sự việc rất cũ về ngày xưa như mới vừa xảy ra: ông nói về những chi tiết của triết học Đông phương, Tây phương mà tưởng chừng sẽ không ai nhớ nổi... và cuối cùng trong câu chuyện bao giờ cũng tiếc rẽ về một nền văn minh đương đại đă đến với chúng ta lần thứ nhất, chúng ta đă không tiếp đón và học hỏi cái hay mà lại đánh đuổi họ ra đi; lần thứ hai với người Mỹ trong biết bao cái tuyệt vời nhất của thời đại, thật là cơ may khôn cùng với dân tộc Việt Nam, nhưng rồi chúng ta cũng lại xô đuổi họ ra đi... ôi là những chuyện đáng tiếc cho dân tộc nầy. Quả thật bao giờ nói về điều nầy ông cũng lộ rơ sự hưng phấn của ḿnh. Tù nhân bất hạnh nầy bị chết do áp huyết cao mà phải lao động khổ sai, vào một buổi sáng đang chuẩn bị đi ra hiện trường th́ té ngă và chết tại chỗ, theo lời bác sĩ trại giam ông bị đứt mạch máu năo.

            -Tù nhân Bùi xuân Phương, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, ông luôn kể về lịch sử đấu tranh về nhân quyền của các tổ chức một cách tỉ mỉ, đến nỗi có nhiều chi tiết tưởng chừng không cần phải nhớ, và với tù nhân nấy chỉ thật sự hưng phấn khi kể về các tổ chức trong đó có tổ chức Duy dân của chính ông và Hội ái hữu các tù nhân chính trị trong nhà tù cộng sản do Linh mục Nguyễn huy Chương và chính ông thành lập tại trại Thung lũng tử thần, cũng chính v́ tổ chức nầy ra đời đă đưa Linh mục Chương bị kiên giam đến chết. Đối với tù lương tâm, sự hưng phấn đến với mỗi người dường như cũng là cái nghiệp của người ấy.

Trở về đầu trang

 

            3. Quên (amnesia):

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn Tư, án chung thân, tuổi trên ba mươi, sau một thời gian lao lư trên mười lăm năm, anh trở nên bất b́nh thường trầm trọng như không c̣n nhớ rơ việc trước việc sau, chốc nữa sẽ làm việc ǵ. Mọi người khuyên anh luyện trí nhớ, anh rất cố gắng nhưng khi đọc xong chữ trước đă quên chữ sau. Sinh hoạt hằng ngày anh cũng hoà nhă với anh em nhưng dễ nổi nóng và rất hay bị kích động.

            -Tù nhân Trần văn Trí, án chung thân, tuổi hai mươi, sau một thời gian dài lao lư trên mười năm, dù tuổi rất trẻ nhưng trí nhớ giảm hẳn, v́ c̣n trẻ mọi người khuyên anh học thêm, tù nhân nầy cũng rất nỗ lực nhưng không có kết quả như học trước quên sau. Ngoài ra tù nhân nầy rất dễ bị kích động, có lần v́ sự khiêu khích mà anh cùng một bạn tù trẻ khác đă quên hết sự nguy hiểm và dùng cuốc xẻng đánh nhau suưt chết. Sau vụ “quên” đó, anh trở nên thờ thẩn và chậm chạp càng không linh hoạt như trước nữa.

 

            3.1 Quên toàn bộ hay quên toàn phần: Quên toàn bộ là quên những sự việc cũ và mới thuộc mọi phạm vi, gặp trong trí tuệ sa sút nặng. Quên từng phần là quên một số kỷ niệm, quên ngoại ngữ, quên thao tác nghề nghiệp. Gặp trong tổn thương khu trú ở một vùng nhất định của năo hay do cảm xúc quá mạnh và đột ngột .

            Cụ thể:

            -T́nh trạng quên từng phần hầu như các tù nhân thụ án lâu năm đều mắc phải, chỉ duy ở mức độ nặng nhẹ khác nhau như đan cử:

            Tù nhân Trần văn Liên, án chung thân, tuổi năm mươi, sau thời gian hơn mười năm lao cải và di lư đến những trại giam khác nhau, gia đ́nh thăm viếng cũng thưa dần v́ kinh tế quá khó khăn, anh bắt đầu có triệu chứng ù tai và sau đó điếc dần cũng như chứng kém trí nhớ phát triển ngày càng nhanh, theo sự diễn tả của anh: h́nh như cái năo của tôi nó cô lại chỉ c̣n ít tế bào trong số mười tỷ là c̣n hoạt động. Cụ thể như về quan hệ thân tộc ông chỉ c̣n nhớ tên vợ chứ không c̣n nhớ họ lót, các con có cháu nhớ tên quên chữ lót, có cháu chỉ c̣n nhớ tên lúc c̣n nhỏ. Hằng ngày trong sinh hoạt các vật dụng hay bỏ đâu quên đó và ai nói ǵ ông cũng vui vẻ chấp nhận nhưng luôn với câu: Thế hả, thế hả.

            -Tù nhân Nguyễn văn Khoen, án trên mười lăm năm, tuổi trên năm mươi, bị cụt một chân, ông c̣n nhớ một ít câu thơ và ngâm vịnh thường xuyên nhưng lại đọc trước quên sau, nhiều lúc ông tâm sự: Tức quá tuổi già và sự giam giữ cách ly với xă hội quá lâu dài trong thiếu thốn đă làm cho con người ḿnh trở nên ngày càng đần độn.

 

            3.2 Quên thuận chiều (amnesia anterograde): Là quên những sự việc xảy ra ngay sau khi bị bệnh một thời gian từ vài giờ đến vài tuần. Hành vi người bệnh trong thời gian đó hoàn toàn đúng đắn, họ hiểu cặn kẻ tất cả, nhưng về sau họ quên mọi chuyện xảy ra trong thời gian đó. Gặp trong chấn thương sọ năo.

            Cụ thể:                                                                 

            Tù nhân Nguyễn văn Nở, án hai mươi năm, tuổi trên năm mươi, ông bị đột quỵ , rồi liệt hẳn một cánh tay, theo các y sĩ trong tù ông bị đứt mạch máu năo, về sau tù nhân nầy hầu như quên hết mọi chuyện cả quá khứ lẫn hiện tại, các bạn tù thường xuyên chăm sóc và gợi ư để ông có thể hồi phục trí nhớ, nhưng cơn bệnh ngặt nghèo do lao cải quá lâu đă dần đưa ông đến sự bại liệt toàn thân cùng trí nhớ mất hẳn và chết tại trại giam.

            -Tù nhân Nguyễn văn Cẩn, án hai mươi năm, tuổi trên bốn mươi, bị nhốt kỷ luật, kiên giam quá lâu trong pḥng tối đến gần mù mắt, tê liệt tứ chi, khi được ra ngoài phải mất mấy năm sau mới tập đi lại từ từ từng bước. Thế nhưng trí nhớ của tù nhân nầy chỉ ngày càng kém đi. Anh chỉ biết đă bị nhốt trong pḥng tối nhưng không biết là bao lâu, bị tra tấn nhiều nhưng không biết đánh ở đâu.

  

            -Quên trong cơn (amanesia congrade): người bệnh chỉ quên sự việc xảy ra trong cơn, trong thời gian bị bệnh, gặp trong cơn động kinh.

            Cụ thể:

            Tù nhân Nguyễn văn Phú, án mười lăm năm, tuổi ba mươi, do bị tra tấn quá nặng, theo lời kể của anh, hậu quả về sau bị mắc chứng động kinh, thường vài hôm lại lên cơn động kinh, và trong cơn động kinh anh không c̣n nhớ ǵ hết, cả thân người run lên, tay chân co giựt hay co rút lại... Thế nhưng lúc hết cơn anh lại sinh hoạt b́nh thường..

            -Tù nhân Lê văn Hưng, án hai mươi năm, tuổi trên năm mươi, mắc chứng động kinh, vào những lúc đó hầu như ông không c̣n nhớ ǵ cả, song hết cơn động kinh tù nhân nầy trở lại sinh hoạt b́nh thường dù có chậm chạp do thời gian giam giữ quá lâu dài.

 

            3.3 Quên do ghi nhận kém, do nhớ lại kém.

 

            -Quên do ghi nhận kém (amnesia fixation): thường là quên thuận chiều.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn văn Tài, án chung thân, tuổi ba mươi, mắc chứng bệnh suyễn, lao phổi, do thời gian lao cải quá lâu cùng các chứng bệnh nan y ngày càng thêm nặng khiến trí nhớ của anh kém dần, như khi lên cơn suyễn hoặc những lúc ho ra máu anh chỉ c̣n nhớ ḿnh c̣n thở được đến hơi thứ mấy và không biết lá phổi có c̣n hoạt động nữa hay không.

            -Trần văn Thuyên, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, bị tim mạch cùng áp huyết cao, mỗi khi lên cơn co giựt ông chỉ c̣n những lời cầu xin trăn trối: Cứu con với Chúa ơi... Không biết ǵ hết trong sự vật lộn với tử thần, sau đó ông chết trong đau đớn.

 

            -Quên do nhớ lại kém (amnesia eoction): thường là quên ngược chiều.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn đ́nh Tài, án hai mươi năm, tuổi ngoài sáu mươi, sau một thời gian dài ở tù cùng tuổi cao, trí nhớ ông hầu như giảm dần, ông chỉ c̣n nhớ tên một vài người bạn cùng chiến đấu với ông ngày xưa, nhất là trong suốt cuộc đời binh nghiệp, ông chỉ nhớ đă bắn có mười hai phát súng và luôn thêm câu xác nhận chỉ bắn có chừng ấy mà thôi, cấp bậc của ông là Trung tá trong chế độ miền Nam trước đây. Hầu như ông đă quên hết những tri thức mà ông đă thụ bẫm trước đây.

            -Tù nhân Nguyễn văn Sền, án trên mươi lăm năm, tuổi gần bảy mươi, sau một thời gian lao cải lâu dài hầu như trí nhớ cụ giảm hẳn khi tuổi tù cùng tuổi đời ngày càng cao. Suốt ngày cụ chỉ lo trau chuốt những cây gậy cho thật đẹp, v́ cụ bịnh già nên được miễn lao động nhất là mỗi khi ra hiện trường lại phải tốn công khiêng cụ về.

 

            3.4 Quên tiến triển, quên cố định, quên thoái triển:

 

            -Quên tiến triển: hiện tượng quên tăng dần với thời gian, người bệnh mất khả năng ghi nhận và quên dần vốn kiến thức. Sự quên nầy tiến hành theo định luật Ribot, tức là sự việc mới quên trước, sự việc cũ quên sau.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn văn Trọng, án mười lăm năm, tuổi bảy mươi, thời nào cũng bị ở tù v́ theo cụ thời nào cũng có bất công và cụ chống lại những bất công đó, từ Pháp đến Mỹ, cộng sản... Tuổi cao mắt cụ yếu hẳn đến gần mờ, tai cũng không c̣n nghe rơ nữa, trí nhớ giảm hẳn như những ǵ vừa mới xảy ra cụ quên ngay, thế nhưng với những ǵ xảy cách đây dù vài chục năm cụ lại nhớ rất rơ.

            -Linh Mục Nguyễn văn Thuyên, án hai mươi năm, tuổi ngoài bảy mươi, tâm hồn Ngài rất thanh thản mặc dù ngài bị chụp mũ tuyên truyền chống chế độ cộng sản, sống bên vị Linh mục nầy người ta nhận thấy không có sự oán thù mà chỉ có sự tha thứ, do tuổi cao cùng sự giam giữ lâu ngày, trí nhớ giảm dần như những ǵ thuộc quá khứ cụ nhớ rất rơ và nếu ai biết gợi ư cụ sẽ kể lại rất tỉ mỉ, song những ǵ đang xảy ra như đến giờ dùng cơm cũng phải có người nhắc và đưa đi dùng bữa, cụ mới nhớ ra.

 

            -Quên cố định: hiện tượng quên không thay đổi, không tăng, không giảm.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn văn Quư, án mười lăm năm, tuổi năm mươi, từ khi bị bắt, bị tra tấn, sau đó hậu quả mắc chứng hay quên, nhưng do ư chí quyết tâm luyện tập, dù tuổi ngày càng cao vẫn không tăng, anh sinh hoạt b́nh thường và lúc nào cũng ôm theo những mảnh giấy nhỏ đầy tiếng Anh bên ḿnh để luyện trí nhớ.

            -Tù nhân (Nguyễn văn) Điều, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, sau vụ thất bại trong âm mưu đào thoát, anh bị kêu án từ trập trung lên hai mươi năm, với thời gian giam giữ quá lâu khiến trí nhớ có giảm nhưng sinh hoạt b́nh thường, do cố gắng luyện tập, lạc quan thích giúp đỡ anh em nếu có nhu cầu, những ǵ thuộc quá khứ cũng như hiện tại phần lớn đều được hồi phục và nhớ rơ.

 

            -Quên thoái triển: người bệnh nhớ lại dần dần các sự việc đă quên.

            Cụ thể:

            Linh mục Trần văn Long, án hai mươi năm, tuổi ngoài bảy mươi, mặc dù tuổi cao nhưng cụ rất minh mẫn, những ngày mới bị bắt do bị trấn áp và khủng bố thường xuyên nên trí nhớ của cụ có giảm sút, nhưng sau đó cụ lấy lại tinh thần, và thật sự những ai có dịp hầu chuyện với vị Linh mục cao niên nầy đều thấy cụ rất tỉ mỉ trong những câu chuyện ở quá  khứ và cả những ǵ đang xảy ra,

            -Tù nhân Nguyễn văn Tống, án chung thân, tuổi năm mươi, sau nhiều năm bị kỷ luật, kiên giam khiến trí nhớ ông bị giảm sút trầm trọng, nhưng sau đó ông đă cố gắng luyện tập kư ức và có thể nhớ lại dần dần kể cả những kiến thức mà ông đă từng thụ bẫm, trước đây ông là một giáo viên bậc trung học. Nhưng chẳng may số phận nghiệt ngă đă đến, ông ho ra máu thường xuyên, có khi thổ huyết trầm trọng nhưng trong điều kiện thiếu thốn thuốc men khiến căn bệnh lao phổi đă cướp đi sinh mạng của ông trong tù.

 

            4. Giảm nhớ (paramasia):

 

            4.1 Nhớ giả (pseudoreminiscence): đối với những sự việc có thật trong cuộc sống của người bệnh trong một thời gian và không gian nào đó, th́ người bệnh lại nhớ vào một thời điểm và không gian khác.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Thái văn Mân, án hai mươi năm, tuổi gần sáu mươi, sau thời gian lao cải quá lâu dài cùng với tuổi cao khiến trí nhớ của cụ ngày càng giảm sút, ví dụ cụ không c̣n nhớ rơ ḿnh bị bắt lúc nào, nhớ lộn xộn năm nầy qua năm khác, nhớ sai những giai đoạn đă từng làm việc từ triều đại nầy lẫn qua triều đại với năm tháng khác.

            Tù nhân Nguyễn trọng Tân, án hai mươi năm, tuổi bảy mươi, do tuổi già sức yếu cùng thời gian lao cải kéo dài khiến trí nhớ của cụ trở nên lộn xộn về không gian và thời gian, như nhầm ngày sinh với ngày ra toà, nhầm Tết Tây thành Tết Ta... Sinh hoạt hằng ngày trông th́ đi lại b́nh thường nhưng hay quên vật nầy ở chỗ nọ chỗ kia.

 

            4.2 Bịa chuyện (confabulation): người tù trong t́nh huống nầy quen các sự việc đă xảy ra và thay vào chỗ quên lại kể đến những sự việc không hề xảy ra với ḿnh, nhưng bản thân người bệnh không biết là ḿnh bịa ra. Nội dung bịa chuyện có thể thông thường hay kỳ quái. Nhớ giả và bịa chuyện thường gặp trong các bệnh thực thể nặng ở năo.

            Cụ thể:

            -Các tù nhân từng qua trại Thung lũng tử thần đều không quên được h́nh ảnh hai nhân vật Nguyễn văn Châu tức Châu sáng thế và cụ Nguyễn văn Lịch. Những người nầy biết rơ thị hiếu của tù chính trị là thích nghe tin tức, nên lúc nào bất kể giờ nào, ngày nào họ cũng có thể phịa ra những thông tin rất bịa đặt từ BBC, VOA... để làm quà cho các bạn tù. Thật sự như cụ Lịch không bao giờ dùng những thông tin đó để lừa bịp ai và có điều chính cụ lại tin vào những sự bịa đặt ấy là thật.

            -Tù nhân (Trần văn) B́nh, án mười lăm năm, tuổi ba mươi, anh có khoa nói và hay kể chuyện ma cũng như trinh thám, và ai cũng biết từ những cốt truyện đó anh đă phịa ra những chuyện khác theo cốt truyện đă có sẵn thật hay, mọi người biết rơ anh phịa nhưng lại rất thích nghe. Về sau anh đào thoát, có tin anh đă thoát được.

 

            4.3 Nhớ nhầm: người bệnh nhớ việc ḿnh thành ra việc của người khác, hoặc ư nghĩa sáng kiến của người khác th́ nhớ ra là của ḿnh, những điều nghe người khác kể lại hoặc thấy ở đâu th́ tưởng là những điều mà bản thân ḿnh đă sống qua. Có người bệnh lại tưởng ḿnh đang sống trong dĩ văng (ecmnesia). Gặp trong bệnh động kinh.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn Hay, án trên mười lăm năm, tuổi trên năm mươi, ông hay nhớ nhầm chuyện nầy sang chuyện khác, nhất là mỗi khi có ai kể chuyện ǵ mà ông được nghe ông vẫn thường nói tiếp lời: À tôi cũng như thế... Tôi cũng vậy. Tôi cũng đă trải qua t́nh cảnh như thế.v.v. Sinh hoạt hằng ngày ông rất vui vẻ, sẵn sàng giúp đỡ mọi người.

            -Tù nhân Nguyễn Học, án trên mười lăm năm, tuổi trên ba mươi, anh hay kể lại những chuyện của người như thể của chính anh, hay nói về những phát minh những công tŕnh khoa học như chính anh đă từng tham gia, nhưng khi hỏi về nội dung th́ anh không thể trả lời được.Trong sinh hoạt hằng ngày tù nhân nầy rất thích đọc sách và thích giao du với những người có tŕnh độ.

Trở về đầu trang

 

RỐI LOẠN CHÚ Ư.

 

            1. Chú ư suy yếu: người bệnh không thể tập trung sự chú ư vào một việc ǵ lâu được, mà rất dễ bị phân tán tư tưởng. Gặp trong loạn thần kinh suy nhược và các bệnh thực thể của năo.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn văn Dư, án trên mười năm, tuổi trên ba mươi, không bao giờ anh đứng ngồi yên một chỗ, không có câu chuyện nào mà không tham gia nhưng rồi chỉ một vài câu gọi là “xía vào” rồi lại bỏ đi. Nhiều người khuyên anh tuổi hăy c̣n trẻ hăy cố gắng học thêm, nhưng cầm sách lên th́ lại sớm vứt đi v́ theo anh không thể nào tập trung được, nào vợ con ngoài xă hội đă lấy chồng khác, con cái lưu lạc. Tất cả như một thứ hỗn mang dồn dập chi phối trong năo bộ.

            -Tù nhân Thái văn Lương, án trên mười năm, tuổi ba mươi, cũng như phần lớn các tù nhân sau một thời gian lao cải quá lâu dài, họ không c̣n sự chú ư nào khác trước sự đ̣i hỏi của bản năng sinh tồn, đối với anh công việc đầu tiên khi xuất ra khỏi trại giam là xin đi vệ sinh, rồi vào trong đám khoai ḿ mà moi từng củ khoai nhai cho qua cơn đói, giống như các tù nhân thuộc đội Côn đảo, các tù nhân thuộc nhóm nầy thường đă ở trên mười lăm năm, có người trên ba mươi năm, và mỗi khi xuất trại ra khỏi cổng một đoạn đường là ai nấy t́m mọi cách chạy bứt lá khoai ḿ, cố sao cho được một nắm để về làm dưa ăn với cơm, cho dù các quản giáo, quản chế có đá cho mấy cái họ cũng chấp nhận. Sự chú ư của họ chỉ c̣n duy nhất trong một chiều kích đó là: ăn, ăn cái ǵ cũng được để qua cơn đói nhất vào mưa lũ tại các trại như Thung lũng tử thần.

 

            2. Chú ư tŕ trệ: năng lực di chuyển sự chú ư của người bệnh rất kém, người bệnh chú ư tập trung vào một chủ đề, một đối tượng trong một thời gian tương đối lâu, nhưng di chuyển sự chú ư từ vấn đề nầy sang vấn đề khác th́ chậm chạp. Thường gặp trong bệnh động kinh, bệnh tâm thần phân liệt và trạng thái trầm cảm.

            -Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn văn Tới, án trên mười lăm năm tuổi bốn mươi, anh thường vui vẻ và nói: Xin thông cảm với những người tù trên mười năm... Thật vậy với chính anh mỗi khi chuyển sự chú ư từ vấn đề nầy sang vấn đề khác, từ công việc nầy nọ khác nhau đều thích nghi rất chậm, nghĩa là phải có một khoảng cách thời gian.

            -Tù nhân Trần văn Đạt, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, tù nhân nầy đang khoẻ mạnh nhưng v́ cố tranh tiên tiến và lao động quá sức để được giảm án, hậu quả dẫn đến đột qụy v́ làm nhiều mà ăn rất ít, sự cố tai biến mạch máu năo đă làm ông liệt nửa người và cũng từ đó không c̣n linh hoạt như trước, mọi sự chú ư như đang thờ thẩn về một cơi xa xăm vô định không biết nó là cái ǵ.

 

            3. Chú ư di chuyển nhanh chóng: người bệnh không thể tập trung sự chú ư vào một đối tượng cần thiết mà luôn luôn di chuyển sự chú ư của ḿnh từ vấn đề nầy sang vấn đề khác. Thường gặp trong trạng thái hưng cảm.

            -Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn Thanh Liêm, án mười lăm năm, tuổi trên ba mươi, không có chuyện nào của các bạn tù mà anh không tham gia một cách sôi nổi, tranh luận bàn bạc về mọi khía cạnh, khiến nhiều khi người nghe vốn có định kiến với nhau nghĩ rằng anh bênh người nầy nọ, từ đó cũng là nguyên nhân của những cuộc đánh nhau và rồi những vụ ẩu đả cũng sớm qua đi như chính sự chú ư của anh không đến nơi đến chốn về mọi vấn đề, nhưng không có vấn đề ǵ mà không liếc mắt trông xem.

            -Tù nhân Nguyễn Hữu, án trên mười năm, tuổi trên năm mươi, hầu như ông không tập trung vào một vấn đề ǵ cả, vấn đề nào của các bạn tù ông cũng thoáng qua nhưng không góp ư, giải quyết, các tù nhân hay gọi ông “ba phải”. Tù nhân rất vui vẻ và hoà đồng với mọi người.

Trở về đầu trang

 

    

RỐI LOẠN HOẠT ĐỘNG .

 

            1.Giảm vận động, giảm động tác (hypokinesia): Gặp trong trạng thái lú lẫn.

            -Cụ thể:

            -Các tù nhân bị bệnh đột xuất hằng ngày, cũng như những người bị mắc bịnh kinh niên măn tính đều bị nhốt cách ly chung với nhau trong căn pḥng nhỏ chật chội, thường trại giam nào ngoài bệnh xá c̣n có một pḥng nhốt tù bệnh nầy, sự khó chịu hôi hám, lây nhiễm từ người bệnh nhẹ thành nặng hơn sẽ khiến các tù nhân ngại khám bệnh v́ được nghỉ bệnh sẽ bị giam vào những nơi như thế. Thậm chí có người sốt cao vẫn cố gắng theo ra hiện trường, rồi nằm vật vă dưới những lùm cây, nhưng nơi ấy vẫn hơn là mang nỗi ám ảnh rước thêm bệnh vào thân. Tất nhiên với loại pḥng giam dành cho người bệnh kiểu đó thời ai cũng nằm một chỗ, không có không gian cho việc đi lại, và thật sự tù nhân nào vào đây cũng đă lâm trọng bệnh. Đặc biệt các cụ già trên bảy mươi tuổi được miễn lao động song tất nhiên đều bị nhốt vào loại pḥng nầy, khiến nhiều cụ chỉ riêng nỗi ám ảnh bị lây bệnh cũng đủ mau đến dần cái chết. Các tù nhân cũng chứng kiến có thời gian những tù nhân cao tuổi như cụ Nguyễn C̣n trên bảy lăm tuổi, cụ Tôn thất Tư trên bảy mươi đều phải ra hiện trường lao động, và theo sự giải thích của cán bộ quản giáo: nếu không làm được việc nặng th́ làm việc nhẹ.

            -Tù nhân Nguyễn văn Chỉnh, án trên mười lăm năm, tuổi bốn mươi, do bị giam giữ lâu ngày trong pḥng tối, tất nhiên sự tiếp tế của gia đ́nh trong giai đoạn đó rất hạn chế khiến các cơ của đôi chân bị teo lại, cho đến khi được ra các trại lao động khổ sai anh cố gắng tập luyện và lúc nào cũng phải nhờ cặp nạng mới nhích chân được.

            - Ngoài ra c̣n có các tù nhân mà sự giảm vận động thấy rơ như tù nhân Nguyễn văn Phương, án chung thân, tuổi hai mươi, bị bắn lúc truy bắt, do không được chữa trị nên mảnh đạn hăy c̣n ở chân nên việc đi lại rất khó khăn, lúc nào cũng phải chống nạn, tuy vậy anh cũng bị buộc phải lao động khổ sai, thường tù nhân nầy phải ngồi lết dưới đất để xúc cát, đá cho các tù nhân khác khiêng đi.

 

            2. Mất vận động, mất động tác (akinesia): Gặp trong trạng thái bất động ở loạn thần kinh hysteria tâm thần phân liệt .

            Cụ thể:

            -Tù nhân tên gọi là Phước, cụ tuổi bảy mươi, án mười lăm năm, sau một thời gian lao cải bị bán thân bất toại phải nằm liệt đại tiểu tiện ngay tại chỗ nằm, vẫn ăn uống b́nh thường khiến cả pḥng luôn hôi thúi trong một thời gian dài vài tháng, nhưng giám thị vẫn không có cách giải quyết, người khổ nhất vẫn là trưởng pḥng lúc đó là tù nhân Thạch Nhỏ đă cùng các bạn tù khác luân phiên lau dọn, có cả nhà cải cách Đỗ trung Hiếu cũng bị giam trong pḥng nầy tại trai Xuân Lộc, Đồng nai, thuộc miền Nam Việt Nam.

            -Các tù nhân án cao và trải qua thời gian lao cải lâu dài trước khi chết thường mất vận động như tù nhân Phạm văn Dụ, Lê Mại, Linh Mục Nguyễn văn Luân, Linh Mục Nguyễn văn Thuyên, LM Trần văn Long, Lm Nguyễn văn Phong, LM Nguyễn văn Vàng...

 

            3. Tăng vận động, tăng động tác (hyperkinesia): người bệnh có những động tác thừa, động tác tự động như run, nháy mắt, máy môi, nhún vai... Gặp trong trạng thái hưng cảm, trong tâm thần phân liệt.

            -Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn văn Mậu, án hai mươi năm, tuổi bảy mươi, mỗi khi nghe có cán bộ cai tù đến là cụ đă bắt đầu run, có lần các bạn tù chứng kiến cụ bị gọi làm việc, và trên đường đi tay chân run lập cập như muốn đánh vào nhau, c̣n đôi môi mấp máy liên tục.

            -Tù nhân Nguyễn văn Nậm, án trên mười năm, tuổi sáu mươi, lúc nào cũng lớn tiếng với các bạn tù một cách hùng hổ, thô tục, nhưng mỗi khi nghe có vấn đề ǵ liên can đến an ninh như sắp bị làm việc là tay chân muốn run lên cùng đôi môi bắt đầu mấp máy, đi lại muốn té. Nỗi ám ảnh sợ hăi khiến các cơ bắp ông tăng vận động cùng sự bài tiết liên tục, biểu hiện qua những lúc ấy ông thường một tay ôm bụng gần bộ phận bài tiết. Theo lời ông kể trong các lần làm việc như thế ông xin “đi giải“ không biết bao nhiêu lần.

            -Tù nhân Nguyễn Mậu, án chung thân, tuổi ba mươi nhưng đầu đă bạc, anh từ án tử h́nh được tha tội chết xuống chung thân, mỗi khi nói chuyện anh thường thêm sự vận động của các cơ như nhún vai, lắc đầu. Nhưng sự vận động nầy không v́ sợ hăi nhưng xuất hiện nhiều khi có niềm vui với các bạn tù.

 

           4. Động tác dị thường (parakinesia): Là những động tác không có ư nghĩa, không cần thiết, có tính chất định h́nh như siết mạnh tay, ngửa mặt nh́n trừng trừng. Thường gặp trong tâm thần phân liệt.

            -Cụ thể:

            -Tù nhân Trần Tích, án mười bốn năm, tuổi bốn mươi, bị đâm mù hai mắt lúc hỏi cung, mặc dù bị mù nhưng mỗi khi ai nói hoặc hỏi anh chuyện ǵ anh hay trố mắt và nh́n về phía trước hay nh́n lên một cách dị thường khiến người không quen dễ bị ám ảnh sợ về cái nh́n khác thường đó.

            -Tù nhân Nguyễn văn Chức, Linh mục, án hai mươi năm, tuổi ngoài sáu mươi, gặp ai cũng mừng rỡ có khi ôm hôn, vỗ vai, bóp tay chân ngay giữa sân tù. Thật sự vị Linh mục nầy sống hồn nhiên như con trẻ.

 

            5. Giảm hoạt động (hypoboulie): Gặp trong trạng thái suy nhược, trầm cảm.

            -Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn Mạnh, án mười lăm năm, tuổi ba mươi, sau một thời gian lao cải phải chịu nhiều nhục h́nh, cùng sự cách ly với người thân khiến anh không c̣n thích nói năng ǵ cả, những ai đă từng gặp anh - h́nh ảnh bức tượng sống nầy như măi dán vào mắt họ. Tù nhân nầy cũng không giao tiếp với ai, ngoài công việc nấu nướng, ăn ngủ.

            -Tù nhân Nguyễn Để, án trên mười lăm năm, tuổi ngoài sáu mươi, sau những biến đổi của cuộc đời trong cảnh tù cùng nhiều bệnh tật phát sinh khiến cụ trở nên co rút, trầm cảm ít nói, cụ không phải lao động v́ chứng phổi và cơn suyễn tái phát thường xuyên, mọi thời gian h́nh như cụ dành cho việc trùm mền nằm yên một chỗ.

 

            6. Tăng hoạt động (hyperboulie): Gặp trong trạng thái hưng cảm.

            Cụ thể:

            -Tại trại Thung lũng tử thần cũng giống như các trại giam khác: luôn xuất hiện h́nh ảnh của một số tù nhân tay cầm cuốn sổ chạy lăn xăn trong trại giam, đó là những tù nhân phụ trách trật tự, thi đua, văn hoá thông tin. Họ là những tù nhân phần lớn có thành tích lập công chuộc tội nên được tin tưởng, và không sao hiểu nổi những con người khi đóng các vai đó th́ đều thích chạy lăn xăn như thế. Có lẽ sự tăng hoạt động nầy nhằm chứng tỏ với các cai tù rằng họ đang làm việc một cách tích cực. Tù nhân Nguyễn văn Cần dù già nhưng cầm cuốn sổ vừa ghi ghi chép chép vừa chạy giữa trưa nắng thật buồn cười. Tù nhân Nguyễn văn Chấp, Nguyễn văn Toàn, Nguyễn đ́nh văn Long (có biệt danh do tù đặt là Long bọ hung), Nguyễn Sào, Nguyễn Sầm, Phạm quang Hồng... Có cả Linh mục Đinh xuân Thuỵ, ông không những cầm sổ kẹp nách mà c̣n cầm cả gậy chạy thọt khắp trại giam giữa trưa cũng như lúc về chiều quanh trại giam Thung lũng tử thần để xem có ai chuẩn bị đào tường khoét vách trốn trại hay không.

            -Việc trước tác trong tù như Luật sư Lư văn Hiệp ngoài giờ lao động khổ sai cụ đă dịch và phổ thành thơ lục bát nhiều tác phẩm văn chương nước ngoài, chẳng may cụ bị cùm suưt chết tại trại Thung lũng tử thần, có cả phiên toà mở ra để tăng án cho cụ. Luật sư Họ Lư nguyên là Thủ lĩnh luật sư đoàn miền Trung Việt Nam trước đây, nên cộng sản để ư cụ rất nhiều và v́ một nguyên cớ nhỏ theo lời khai có người đến đọc cho cụ nghe vài câu thơ... thế là v́ nguyên do ấy mà truy tố cũng như giam cầm cụ phù cả người gần chết. Ngoài ra các tù nhân c̣n đọc cho nhau nghe về các sáng tác từ các trại khác, và có cả những bản dịch triết học, chính trị, văn học do các tù nhân có tŕnh độ lén lút phổ biến cùng những bài soạn về chính tri, dân chủ, tự do, pháp quyền để nâng cao tŕnh độ các tù nhân. C̣n nữa, đó là vè trong tù rất nhiều lắm. Và sau đây là một vài câu thơ từ các nhà tù từ miền Bắc truyền miệng vào đến miền Nam:

...Khi ta đi lên miền Bắc

Trái tim treo ngoài túi áo

Như chuông trước cổ ngựa thồ....

Trở về đầu trang

           

 

RỐI LOẠN HOẠT ĐỘNG BẢN NĂNG.

 

1. Hành vi xung động: khác với hành vi ám ảnh, các hành vi xung động xuất hiện đột ngột, không có sự kiềm chế từ bên trong. Các hành vi nầy xảy ra vô cớ, vô nghĩa và mănh liệt.

            -Cụ thể:        

            -Tù nhân Trần Tích, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, thường vào giữa trưa trời nóng bức, tù nhân nầy cởi quần áo và la lớn trong pḥng giam, anh ta la lớn chửi rủa như đang đánh đá với ai vậy. Thế là vào những buổi trưa như thế, mọi người trong pḥng giam đó không ai nghỉ ngơi ǵ được cả, song các bạn tù cũng như cán bộ đều thông cảm v́ tù nhân nầy bị mù.

            -Tù nhân Trung c̣n có tên gọi là Trung Lai, án chung thân, tuổi ba mươi, đă nhảy xông vào đánh các bạn tù đi tự giác về lại trại giam, vừa đánh các bạn ḿnh một cách tàn nhẫn c̣n hô: -”đánh cho nó chết, đánh cho nó chừa”. Các tù nhân tự giác nầy cũng là tù lương tâm lâu năm và gần hết án được đi rộng răi ra bên ngoài, khi trở về trại bị nghi nghờ là làm mất danh dự tù chính trị như mua bán đổi chác.v.v. Trung Lai là một thành viên thuộc nhóm thanh trừng nầy. C̣n các giám thị trại giam th́ mặc sức cho tù chính trị giết nhau miễn là chúng không trốn trại là tốt. Quả là hành vi xung động về cả hai phía cán bộ cai tù và giữa các tù nhân.

            Cụ thể::

-   Cách hành xử của cán bộ Thi, Tiến phụ trách an ninh trại Thung lũng tử thần, đó là khi đang làm việc với ai cũng thường dùng các vật dụng có sẵn trước mặt như gạt tàn thuốc, ch́a khoá ném vào mặt các tù nhân một cách mạnh mẽ không kiềm chế, không cần nghĩ đến việc sẽ gây hậu quả thương tích như thế nào đối với các tù nhân.

-Cán bộ Lâm, Tiến (to con) phụ trách an ninh trại Thung lũng tử thần, khi làm việc với tù nhân nào th́ cũng dùng roi điện đánh cho máu me của tù nhân đổ ra rồi ép cung cho vào nhà kỷ luật, mà thường những chuyện xảy ra chỉ là nhỏ nhặt song chúng đều qui kết thành những con voi như vào tù mà c̣n bán nước, hại dân, phản động. Các cán bộ nầy lại là những kẻ ṿi ăn của tù nhiều nhất, cả hai về sau bị bắt quả tang nhận hối lộ của tù.

 

         2.Say mê xung động: Xuất hiện có tính chất từng cơn, thường là các khát vọng xâm chiếm lư trí, chế ngự toàn bộ tác phong người bệnh. Người bệnh nhớ lại thời gian lên cơn một cách không hoàn toàn.

-Giám thị Lại xuân Hùng, trại Xuân Lộc, Đồng nai, c̣n có tên là Hùng la, gặp ai y cũng la lối chỉ chỏ thế nầy thế nọ để tỏ ra ta có quyền lực. Thậm chí cả những tiếng chửi thề được văng ra để tỏ uy quyền. Với quyền lực giám thị ở một phân trại nhưng hầu như y có toàn quyền quyết định về mọi vấn đề trong sự triệt hạ con người cũng như đối với các cán bộ dưới quyền của y. Nơi đây không c̣n luật pháp và nếu có chỉ là cái bóng để y lộng quyền. Tù nhân nào muốn đi phép về nhà cũng được chỉ cần đút lót cho y, tù nhân nào muốn ở lại với vợ hai vợ ba cả tháng cũng không sao v́ y nhân danh chính sách mở cửa và cho xây nhà hạnh phúc để các tù nhân ở lại với gia đ́nh, và ai cũng rơ muốn ra tự giác th́ hối lộ cho y là được ngay.

-Giám thị Nguyễn văn Bảy, trên sáu mươi tuổi, trại A30, Cổn Sơn thuộc miền Trung Việt Nam, y là một người không được học hành văn hoá phổ thông, chỉ học triết học Mác Lê nin, nhưng lại quá say đắm quyền lực, có lẽ cho đến khi lên giường y mới không c̣n la lối để chứng tỏ uy quyền và dù già nhưng những lời chửi thề thô tục là chuyện b́nh thường. Mặc dù ít học nhưng việc áp dụng định luật mâu thuẩn của Mác th́ thật là tuyệt vời như có có lần y tuyên bố trước toàn trại nhân dịp mít-ting: Tôi rất thương hoàn cảnh của các anh chị, nếu tôi mà nghe theo lời báo cáo của anh A, anh B, anh Xuân đây (án chung thân, người đồng hương với y), th́ ít ra cũng có đến một phần ba trong số hiện diện ở đây bị đi cùm. Không rơ ông Xuân đă báo cáo thực hư như thế nào nhưng sau đó các bạn tù đă nh́n tù nhân nầy với con mắt dè chừng và tên nhiều tù nhân khác cũng được nêu lên như thế. Bảy đầu ŕu luôn tạo sự mâu thuẩn giữa các tù nhân trong cách chia để trị. Y cũng thường cho làm việc với tù nhân nầy nọ, thật ra chỉ mời lên pha trà uống nước, hỏi thăm sức khoẻ rồi cho về, nhưng cùng lúc sau đó y cho mang đi cùm người nầy, kẻ kia khiến gây hoang mang trong trại nhất là ai cũng đặt câu hỏi về người mới làm việc... và thật oan cho tù nhân đó mà thường là các nhân vật có uy tín từ ngoài xă hội, nếu những ai không có sự suy xét sâu sắc. Nhưng Bảy đầu ŕu lại không giải quyết được những mâu thuẩn trong y, ai cũng rơ các chuyện dại gái của y vào tuổi bảy mươi, y luôn xin ở lại chức vụ để được cống hiến, với y quả là khó mà đi phép, h́nh như y không nhận hối lộ, hay quá kín đáo không ai biết, nhưng với các tù nhân nữ - theo lời kể của chính họ - người nữ nào ôm đùi ông khóc và có nước mắt chảy ra ướt đùi ông, thế là y kư ngay ít ra là chục ngày, đặc biệt c̣n đưa về đến tận nhà. Bảy đầu ŕu là một Trưởng trại gian ác khét tiếng, nguyên là một giám thị của Trại Thung lũng tử thần, cách cai tù của y giống như một lănh chúa đầy uy quyền, và thật sự y có toàn quyền sinh sát trong tay. Các cán bộ dưới trướng của y đều một thưa hai dạ... Thế nhưng đă có một cuộc kiểm điểm xảy ra trong hàng ngũ cán bộ: -Đó là kiểm điểm “Chú Bảy” về việc dùng xe con của cơ quan để đưa một nữ tù nhân đi bệnh viện, tù nhân nầy vốn đă rất đẹp nên được nhiều cán bộ để ư, v́ tội trốn ra nước ngoài, và các cán bộ đă kháo nhau đến tai tù nhân: Ông Bảy đă đưa người đẹp đi phá thai. Hành vi xung động khác thường của tên trưởng trại nầy nhiều khi như điên loạn diễn ra trong việc sát hại tàn nhẫn các tù nhân trốn trại mà không chờ đợi có sự xét xử của toà án, với cái tên Bảy đầu ŕu cũng đồng nghĩa với sự giết chết bao người vô tội từ trong chiến tranh cho đến hoà b́nh mà tất cả nh́n lại quanh y - chỉ toàn là người Việt Nam, nhưng con người vô học đó có một sức mạnh, nó được trang bị bằng niềm tin không cùng giai cấp vô sản là kẻ thù, và kẻ thù th́ phải chết.

           

            - Xung động đi lang thang (dromomania): Là khuynh hướng khát vọng không thể nén được, xuất hiện có tính chất chu kỳ đối với việc quyết tâm đào thoát. Khi cơn say mê nầy xuất hiện, người tù không suy nghĩ ǵ về những hậu quả có thể xảy ra.

            -Cụ thể:

            -Tù nhân Lê văn Hoà, án chung thân, tuổi ba mươi, khát vọng hàng đầu của anh là phải đào thoát khỏi trại giam, và anh đă thực hiện điều nầy nhiều lần song đều thất bại cùng với sự tăng án đến chung thân. Sự quyết chí nầy lại một lần nữa được thực hiện tại trại Thung lũng tử thần và anh đă thành công .

            -Tù nhân Trần Dư, án chung thân, tuổi hai mươi, sự quyết chí đào thoát khiến anh không c̣n sợ hiểm nguy ǵ cả, anh đă đào thoát nhiều lần với sự thất bại cùng bản án tăng cao, nhưng khát vọng trốn khỏi trại giam vẫn c̣n đeo đuổi măi bên anh cho đến một ngày nào đó có thể đào thoát được cho dù phải chấp nhận cái chết.

 

            - Xung động trộm cắp (kleptomania): Là sự ham thích ăn cắp, thỉnh thoảng xuất hiện đột ngột. Sự ăn cắp nầy không có mục đích hay lư do xác đáng, ăn cắp rồi đem vứt đi, đem cho, đem tặng người khác, bỏ quên hay trả lại người đă bị mất.

            -Cụ thể:

            -Tù nhân Mai văn Phúc, án chung thân, tuổi khoảng ba mươi, anh ta thích đánh cắp hoa màu của trại giam, trước hết là để cải thiện cho chính bản thân ḿnh sau là cùng chia cho các tù nhân khác trong lúc khó khăn, hầu như tù nhân nầy không có thăm nuôi, cho dù ở bất cứ nơi nào và chuyển đến những trại khác nhau, tù nhân nầy vẫn luôn cải thiện trong cách thế như vậy.

            -Tù nhân(Cao văn) Đặng, án chung thân, tuổi ba mươi, ăn cắp chuyên nghiệp, từ hoa màu cho đến vật dụng của các bạn tù, có khi ăn cắp rồi vứt đi, hoặc trả lại chỗ cũ cho khổ chủ... Mọi người cũng nhận ra tính chất h́nh sự trong tù nhân nầy và được biết anh là tù h́nh sự cùng âm mưu trốn trại với tù lương tâm và cũng từ đó bị nhốt chung trộn lẫn với tù chính trị.

            - Xung động đốt nhà (pytomania): Là khát vọng đốt nhà, được tiến hành không có mục đích gây ra tai nạn.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn văn Nho, án hai mươi năm, tuổi trên năm mươi, các tù nhân hay gọi ông là “vua khói lửa”, ông rất thích nấu nướng và đốt lửa thật cao, nhiều khi không có ǵ nấu nướng v́ không có sự thăm gặp thường xuyên của gia đ́nh, những lúc khó khăn đó tù nhân nầy vẫn nổi lửa và nấu nước sôi cho đỡ cơn ghiền theo lời ông.

            -Tù nhân Nguyễn văn Nuôi, án mười lăm năm, tuổi ba mươi, anh ta cũng chỉ thích nổi lửa trong tù, cho dù không có ǵ nấu nướng mỗi khi đến giờ được phép nấu nướng anh đều hô hào các bạn tù hăy nổi lửa lên thật là trong sự hưng phấn.

            -Cụ thể:

            -Xung động đốt cháy tâm hồn tù nhân, đặt ra những chuyện vu vơ để giết để làm cho người tù bị stress, hoặc t́m cách huỷ hoại tâm hồn họ. Nó là hệ luận tất yếu của chủ nghĩa khủng bố, luôn làm cho con người sợ hăi hồi hộp liên miên trong từng gan tấc, từng giây từng phút như sợ tiếng kẻng, sợ bị báo cáo, sợ bị làm việc, sợ không gặp người thân, sợ không được nhận quà tiếp tế, sợ không được nhận thư viết thư, sợ bị làm nhục, sợ không có ngày về nhất là ai cũng sợ cái chết sẽ đến bất cứ lúc nào mà nhiều khi trong điều kiện, môi trường khác có thể chưa phải chết.

            -Tù nhân Trần Vĩnh Đắc, án tập trung dài hạn, ông thường nói trước khi chết: Tôi không sợ cái chết, nhưng sợ nhất về hành động từ những con người nghĩ ḿnh sẽ không bao giờ chết và chỉ có kẻ khác phải chết và cố làm mọi cách cho họ chết trong đau đớn, sợ hăi một cách thoả măn về phía những người luôn nghĩ ḿnh “bất tử”. Mặc dù có cái nh́n đầy triết lư như vậy nhưng ông vẫn là người la lớn nhất trong trại Thung lũng tử thần trước cái chết.

            -Tù nhân Trần văn Ứng, tuổi bốn mươi, Linh mục, hầu như ông im lặng hoàn toàn, ngoại trừ vào những lúc điểm danh để trả lời có hay không. Ông bị vào tù về tội “hiếp dâm trẻ em”, mà theo các tù nhân ở cùng địa phương biết rơ vụ việc nầy - ông chỉ là nạn nhân của sự chụp mũ mà thôi. Đặc biệt trong cuộc sống thường ngày ông không có ǵ tỏ ra sợ hăi cả v́ có lẽ những cái con người làm được mà đáng ra không nên làm họ đă làm với ông.

           

             - Xung động giết người: đột nhiên xuất hiện không nguyên cớ ǵ, có thể lập đi, lập lại nhiều lần.

            -Cụ thể:

            - Các vụ giết người, thanh toán nhau ngay tại trại giam của tù h́nh sự, khi các tù nhân chính trị bị mang đi cất dấu lẫn lộn chung với tù h́nh sự, họ đều được chứng kiến cảnh tù h́nh sự đâm chết nhau tại chỗ, và chúng đâm chém, thanh toán nhau hằng ngày ngay trong các pḥng giam. Những vụ giết người vô cớ hầu hết chỉ là lư do hận thù nhỏ nhặt, sinh mạng của con người bị đe doạ trầm trọng như những lời cảnh báo trấn áp tù nhân lương tâm. Các tù nhân lương tâm nào được mang ra khỏi sự giam chung với tù h́nh sự cũng giống như thoát khỏi lũ quỷ... và cứ lâu lâu có tin Cao uỷ Nhân quyền Liên hợp quốc đến và đi th́ hà tất có sự “mèo dấu phân của chúng”.

            -Cụ thể:

            - Mỗi chiều sau giờ điểm danh ở ngôi Nhà Đỏ c̣n gọi là giờ tử thần, các tù nhân đang bị kiên giam, kỷ luật có thể bị lôi ra với những trận đ̣n thật tàn nhẫn. Linh Mục Nguyễn Quang Minh đă bị đánh đến hộc máu và chết sau đó. Tất cả những ai đă từng qua Nhà Đỏ thường không thọ hoặc có sống cũng mang những di chứng của các bệnh nội thương cũng như tâm thần không thể nào c̣n b́nh thường được nữa.

 

            -Thèm uống (potomania): người bệnh có những cơn khát nước, uống măi vẫn không đă khát.

            -Cụ thể:

            -Con người uống nước mương rảnh, các tù nhân bị giam cầm nơi kiên giam, kỷ luật thường đều rơi vào t́nh trạng khát nước, v́ tiêu chuẩn nước ở những nơi nầy rất ít với hai lít mỗi ngày vừa ăn uống dùng vệ sinh mỗi ngày. Điều nầy thể hiện rơ khi các tù nhân đi làm việc thường hay chạy đến các ṿi nước để uống cho đă khát. Nhưng riêng tại trại Thung lũng tử thần, các tù kiên giam mỗi khi làm việc c̣n giả vờ té ngă bên mương rănh để uống nước, các điều kiện khắc nghiệt trong quan hệ với tù kiên giam tại nơi đây như nếu liên hệ sẽ bị làm việc và kỷ luật ngay.

 

            -Thèm ăn (boulimia): người bệnh có những cơn đói ghê gớm, ăn bao nhiêu cũng không thấy no.

            -Cụ thể:

            -Con người ăn cả cỏ non, các tù nhân bị giam kiên giam lâu ngày tại trại Thung lũng tử thần v́ quá thiếu chất tươi, nên mỗi khi đi làm việc họ đều kiếm cách bứt một vài cộng cỏ non bỏ vào miệng và nhai ngon lành, rồi giả vờ té ngă để uống nước mương. Riêng các tù nhân trong t́nh trạng giam cứu nơi các pḥng giam riêng thường ăn cả quần áo mùng mền, những miếng vải được xé nhỏ ra và nhai đi nhai lại nhiều măi và ai cũng thấy ngọt ôi là ngọt. B́nh thường những tù nhân trải qua giai đoạn giam cứu nơi cacho ở các trại tạm giam cho đến ngày ra toà, ít nhất cũng nhai hết nửa cái mền.

            -H́nh ảnh các tù nhân không chỉ là tù h́nh sự mà cả tù lương tâm quây quần bên những bữa gỏi ngon miệng trong sự đói khát khốn cùng, thật sự nó là những chiếc giày da nhặt được trên đường lao động và mang về làm gỏi, nó được ngâm và luộc lại, rồi đánh tơi ra xé nhỏ trộn với rau thơm các loại thành món ăn gỏi giày da... Ôi những chiếc giày như hăy c̣n lắc lư trong kư ức mỗi người với hương vị cái ǵ cũng sẽ ngon trong lúc đói.

 

            - Lệch lạc t́nh dục (sexuel perversion): Đây thật sự là lănh vực sâu kín của con người, nhưng lại rất người. Trong một xă hội mở mọi quan hệ t́nh dục theo hướng tự nhiên, ngoại trừ những trường hợp có sự cấu tạo gene bất thường. Nhưng trong hoàn cảnh bị giam giữ lâu năm, vấn đề t́nh dục lại biến đổi theo môi trường. Ở đây chỉ nêu lên những trường hợp thông tin đă lan rộng và hầu hết các tù nhân trải qua những trại có sự việc xảy ra mà họ đều biết với các biểu hiện:

 

        Thủ dâm (masturbation):

            -Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn văn Thu, án tập trung dài hạn, tuổi trên ba mươi, tự xưng là giáo chủ, có một số người tin theo từ ngoài xă hội, cũng có người trong tù khi thấy ông th́ quỳ sụp xuống tôn kính, họ là những người tin vào ông. Thế nhưng có sự việc xảy ra: đó là khi đang ngồi chờ xuất trại lao động khổ sai tại trại A30, Cổn sơn, ông đă bị một vị Đại đức (tên thường gọi Thầy Lâm) đá cho mấy cái v́ cái tội trong giờ giải lao ngoài hiện trường lao động, ông đă chui vào lùm cây và thủ dâm, các bạn tù đă biết chuyện nầy và kháo nhau về vị giáo chủ tự xưng khiến nhà sư nọ không chịu nổi... Khi bị đánh đau quá ông la lên: Quỷ nó xúi tôi, Quỷ nó làm... c̣n tôi không biết ǵ cả.

            -Tù nhân Lê kim Lê, án tập trung dài hạn, tuổi ba mươi, không rơ tội danh nhưng bản chất h́nh sự và nhốt trộn lẫn với tù chính trị, tù nhân nầy th́ thủ dâm công khai, không biết thẹn khi ai nh́n ngó ǵ cả.

 

        Loạn dâm đồng giới (homosexuality):

-Cụ thể:

-Tù nhân Nguyễn hữu Tín, án chung thân, tuổi trên ba mươi, Đại đức, mặc dù được nhiều nhà sư khác khuyên và nhắc nhở, nhưng ông cũng nói với họ: cái ǵ tôi cũng có thể khắc phục, nhưng xin: đó là cái bệnh của tôi.

-C̣n nhiều trường hợp đă xảy ra và có điều đáng ghi nhận: các Tu sĩ khi vào tù thường lộ rơ sự khiếm khuyết về điểm nầy, đó là thủ dâm và loạn giới. Đây cũng là điều cần sự quan tâm của các nhà đào tạo tôn giáo vào mọi thời đại.

 

        Khẩu dâm: Các tù nhân bị ức chế sinh lư trong điều kiện bị giam giữ lâu năm, thỉnh thoảng hay nói về chuyện nầy một cách tế nhị cũng như thích nghe những vấn đề như thế một cách kín đáo.

-Cụ thể:

-Tù nhân Lư Sen hay kể về những sự ăn chơi của ông cùng những người giàu có trước đây, lúc nào cũng có năm, mười người ngồi nghe trong những giờ hết lao động, ai cũng im lặng mỉm cười, khoái chí. Có người trố mắt lên khi nghe những chuyện với họ: con người lại có những chuyện lạ thật thế ư.

-Tù nhân Lưu Trung, tội tư sản mại bản, án mười bảy năm, tuổi sáu mươi, hay kể về “Nhất dạ đế vương”, cũng như những sự ăn chơi trác tán của giới giàu có trước đây, và lúc nào cũng có người thích nghe, hơn nữa nghe những chuyện như thế th́ sẽ không vi phạm nội qui.

 

        Loạn dâm xung động: những việc loạn dâm, cưỡng dâm mà có lẽ chỉ xảy ra trong trại giam.

Cụ thể:

-Khi các tù nhân nữ bị giam vào nhà kỷ luật thường hay bị cưỡng dâm, mặc dù ít ra một chân bị cùm chúng vẫn không tha, trái lại với chúng lại là điều kiện thuận lợi cho việc hăm hiếp. Sự việc xấu xa như thế đă xảy ra rất nhiều lần với cán bộ quản lư trại giam, cũng như bọn tù thi đua kỷ luật ăn theo tại trại A30, Cổn Sơn. Và vào một ngày kia, có một tù nhân nữ tên Hoa, tuổi hai mươi, bị giam giữ v́ tội trốn ra nước ngoài đă giả vờ ăn cắp một thúng hoa màu của trại giam và tất nhiên bị kỷ luật ngay sau đó, thế là chỉ ngay trong đêm đầu tiên bọn chúng đă cùng canh gác cho nhau để lần lượt vào hăm hiếp. Người phụ nữ nầy đă hy sinh chấp nhận, thấy không kháng cự ǵ cho đến phiên của tên phụ trách trật tự ở đây, cô xin đi vệ sinh và bọn chúng đă mở cùm cho cô. Thế là cô chạy một mạch ra tới cổng trại và kêu thất thanh: Bọn chúng hăm hiếp tôi... Thật may mắn, hôm ấy v́ bọn chúng có mấy đứa muốn ăn theo và cũng muốn chạy cho nhanh nên để cổng trống. Về sau người ta được biết tù nhân phụ trách canh gác khu kỷ luật tên Nguyễn văn Lễ bị kỷ luật về tội đă hăm hiếp cô, y nguyên là một trưởng du kích khét tiếng ở một địa phương, vào tù can tội h́nh sự, và tù nhân Nguyễn văn Sào, phụ trách trưởng ban thi đua của trại giam A30 đă canh gác cho y, nguyên cũng là trưởng du kích khét tiếng tại một địa phương, can tội h́nh sự. C̣n có những cán bộ nào trong đêm hôm đó thời được giấu kín.

 

-Ngoài ra c̣n có vô số các hành vi loạn dâm xung động khác mà nạn nhân chính là các tù nhân lương tâm, nhất là phái nữ trong giai đoạn phong trào vượt biển ở đỉnh cao, khi bị bắt vào trại giam do v́ sợ hăi mà họ bị lạm dụng t́nh dục, bị hăm hiếp như theo thông tin từ nhiều phụ nữ bị giam giữ tại trại Hàm Tân, phụ nữ có nhan sắc khi vào trại Z30D khó mà các tên trưởng trại ở đây tha mạng. Và chuyện xảy ra tại trại A30, Cổn sơn vào một buổi chiều, các cán bộ đă trèo lên những nhánh cây cổ thụ ăn ra giữa ḍng sông, ẩn nấp trên ấy để nh́n các tù nhân nữ tắm sau khi lao động trở về bên dưới ḍng sông quanh trại giam, chẳng may sự cố thường xảy ra có đồng chí đă rớt xuống và tất nhiên không ai rơ chuyện ǵ sẽ đến trong tầm tay trả thù của phụ nữ khi có điều kiện trả thù. Cũng như việc viên trưởng trại A30, tuổi gần bảy mươi bị mang ra kiểm điểm về tội mang xe hơi con của cơ quan chở tù nhân nữ đi bệnh viện phá thai. Tất cả đều là có thật trong sự loạn dâm xung động.

 
     

Home Cương Lĩnh Điều Lệ Lịch Sử Tổng Hội Bức Tường Chính Việt

Không Quên Bạn Tù

Không Quên Đồng Bào Đau Khổ

Trở về đầu trang