|
|
Chào mừng kỷ niệm Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=61232&z=12
Paris, ngày 19 Tháng Sáu năm 2007 Thưa quư chiến hữu, Thưa quư vị quan khách, Cùng các bạn trẻ, Năm nay, chúng ta kỷ niệm lần thứ 41 Ngày Quân Lực của nước VNCH thân yêu. Cựu quân nhân chúng tôi muốn năm nay nhắc lại ư nghĩa của ngày này cho những đồng hương sống ở nước ngoài đă lâu, và nhất là những bạn trẻ sinh đẻ nơi quê người hay đă cùng cha mẹ phải bỏ nước ra đi hồi c̣n ít tuổi. Họ thường có những thắc mắc như:
Bài thuyết tŕnh của tôi, xin chia ra làm 3 phần, rất tóm tắt:
Tôi xin được phép nhắc lại một ít lịch sử: Căn cứ Điện Biên Phủ do Liên Quân Pháp-Việt chống giữ thất thủ Tháng Năm, 1954, và trận này kết thúc chiến tranh Đông Dương. Hiệp định Genève sau đó chia đôi đất nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17: miền Bắc Việt dưới chế độ cộng sản và miền Nam dưới quyền chính phủ quốc gia. Quân đội viễn chinh Pháp, mệnh danh là Corps Expéditionnaire Francais, và Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, quân số lúc đó là 279.200 người (170.000 cho lục quân, không quân 3.500, hải quân 3.700, địa phương quân 54.000, nghĩa quân 48.000) phải tập kết vào Nam. Đầu năm 1956, những đơn vị cuối cùng của Quân Đội Viễn Chinh Pháp rút khỏi Nam Việt Nam. Sau khi đất nước chia đôi th́ chính phủ miền Nam do Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm điều khiển (Quốc Trưởng Bảo Đại th́ ở bên Pháp). Ngày 23 Tháng Mười năm 1955, ông Diệm tổ chức trưng cầu dân ư, truất phế của Bảo Đại và được bầu làm Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Ḥa. Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bị một số tướng tá lật đổ và sát hại ngày 1 Tháng Mười Một, 1963. Nền Đệ Nhất Cộng Ḥa bị cáo chung. Về khía cạnh quân sự th́ miền Nam được hưởng vài năm yên b́nh, từ 1955 cho đến giữa 1958. Các cán bộ cộng sản nằm vùng, sau khi bộ đội chính quy cộng sản chính thức rút về Bắc theo hiệp định Genève, bắt đầu tổ chức khuấy phá, ám sát, phá hoại theo kiểu du kích chiến. Chiến tranh dần dần lan rộng, từ cấp tiểu đội, đại đội tới tiểu đoàn rồi trung đoàn. Ngay sau khi lực lượng Pháp rút lui, Mỹ gửi cố vấn đến thay thế. Với đà gia tăng của chiến tranh, sau đây là quân số Quân Đội Quốc Gia, biến thành Quân Lực VNCH từ năm:
Sau khi chính phủ Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ năm 1963, t́nh h́nh chính trị trong Nam càng ngày càng rối loạn, vài ông tướng quên bỏ trách nhiệm thi đua đảo chính, chỉnh lư. Bè phái bắt đầu lộ diện... Sai lầm bỏ các Ấp Chiến Lược giúp cho quân thù có thêm môi trường hoạt động theo chiến lược du kích chiến của Mao Trạch Đông: quân với dân như cá với nước. CSBV chuyển thêm quân và vũ khí vào Nam, thành lập những chiến khu làm bàn đạp để tấn công thành thị. Bên Cao Miên, đối diện với vùng 3 Chiến Thuật, 3 Sư đoàn CS (Công trường 5, 7 và 9) thường trực trú đóng và có nhiệm vụ khuấy phá khu tam giác rộng lớn phía bắc Sài G̣n, từ Phước Long, B́nh Long, Tây Ninh, xuống tận Bà Rịa, B́nh Giả. T́nh h́nh quân sự suy sụp, và nước Mỹ mượn cớ này để đổ quân ồ ạt vào Miền Nam kể từ năm 1965. Trong thời gian cực điểm của chiến tranh, đă có 500.000 ngàn quân Mỹ có mặt tại Việt Nam. Thêm vào đó, 2 sư đoàn Đại Hàn đóng ở vùng B́nh Định, 1 sư đoàn Thái Lan trên đường đi Vũng Tàu, 1 trung đoàn Úc Châu và 1 tiểu đoàn pháo binh Tân Tây Lan, không kể những đơn vị yểm trợ y khoa Phi Luật Tân, Đài Loan, Đức Quốc... T́nh h́nh nhiễu nhương về chính trị (tôn giáo...) cộng thêm t́nh h́nh khẩn trương về quân sự khiến chính phủ dân sự của Thủ Tướng Phan Huy Quát trao lại cho quân đội trọng trách điều khiển quốc gia. Ngày 19 Tháng Sáu năm 1965 đánh dấu quân đội đứng ra nắm chính quyền. Từ sau đó, mỗi năm, 19 Tháng Sáu là ngày lễ của quân lực được tổ chức đều đặn. Sau 1975, di cư ra ngước ngoài, anh em cựu quân nhân khắp nơi không quên ngày kỷ niệm này, nó thành ra ngày tưởng nhớ những đồng đội đă nằm xuống để miền Nam được sống tự do trong một phần tư thế kỷ. Quân Lực VNCH, từ phôi thai đến trưởng thành và lư do đă tạo nên cuộc chiến Quốc-Cộng Nam-Bắc có một không hai trong lịch sử nước ta. QLVNCH và tiền thân là Quân Đội Quốc Gia Việt Nam từ đâu mà ra? Ngay khi Hồ chí Minh ra lệnh tổng tấn công các vị trí của Pháp ngày 19 Tháng Mười Hai năm 1946, khởi diễn chiến tranh Đông Dương, th́ trong năm 1947 đă có lính Việt Nam chiến đấu trong các đơn vị Pháp. Theo một báo cáo đề ngày 21 Tháng Mướ Một năm 1947, có một năm sau, th́ đă có 18.990 người bản sứ trong quân đội viễn chinh.
Khi chiến tranh chấm dứt năm 1954, số người Việt Nam trong quân đội Pháp đă lên tới 108.000 (53.000 chính quy và 55.000 phụ lực - supplétifs). Nếu chỉ tính 53.000 chính quy th́ người Việt đă chiếm 1/4 quân số quân đội Pháp (200.000 người). Đa số sau này được thuyên chuyển sang Quân Đội Quốc Gia. Cũng trong năm 1954, Quân Đội Quốc Gia có 150.000 chính quy và 50.000 phụ lực. Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được hợp thức hóa ngày 11 Tháng Năm năm 1950 bởi một ḥa ước kư giữa Quốc Trưởng Bảo Đại và Tổng Thống Vincent Auriol. Cán bộ những đơn vị này hầu hết là người Pháp. Trường sĩ quan hiện dịch đầu tiên được khai mạc tại Huế ngày 1 Tháng Mười Hai năm 1948, khóa đầu tiên tốt nghiệp ngày 1 Tháng Sáu năm 1949. Ở đời, lẽ dĩ nhiên, một quốc gia tự lực tự cường không phải nhờ đến ai vẫn là nhất. Nhưng khi thân phận bé nhỏ, phải chọn giữa một tà thuyết tàn bạo và sự liên kết nhất thời với một đồng minh ngoại quốc (trước là Pháp, sau là Mỹ) th́ dân Việt Nam, nếu được quyền ăn nói, đă chọn giải pháp thứ hai. Bài học rút tỉa là dân quê ít học, đă dám dấn thân trước giới trung lưu, thượng lưu nơi thành thị. Họ đă ṭng quân trước tiên, có thể v́ đồng lương, v́ hoàn cảnh an ninh, cơm gạo... nhưng chúng ta không thể phủ nhận họ đă chiến đấu và hy sinh để làn sóng đỏ không phủ lên nước Việt Nam trong suốt những năm 1947-1975. Chiến tranh kéo dài từ năm nọ qua năm kia, đạo quân viễn chinh không giải quyết được chiến trường. Năm 1949, quân Trung Cộng của Mao trạch Đông tiến tới sát biên giới Hoa-Việt, và tiếp tế huấn luyện bộ đội Việt Minh ngày càng lớn mạnh. Tháng Mười năm 1950, trên quốc lộ 4, nối liền Lạng Sơn đến Cao Bằng, quân Pháp đụng với những sư đoàn chính quy mới thành lập của đối phương, đă thảm bại mất đi 8 tiểu đoàn cùng rất nhiều vũ khí trong ṿng có 3 tuần. T́nh thế thật là nguy kịch, và đồng bằng Bắc Việt bị đe dọa nặng nề. Chính phủ Pháp vội chỉ định Đại Tướng De Lattre sang Đông Dương với chức vụ tổng tư lệnh và cao ủy, tức là kiêm nhiệm quyền hành quân sự và dân sự. Ông tới Hà Nội ngày 19 Tháng Mười Hai năm 1950, thủ đô lúc đó xôn xao, quân đội Việt Minh vừa thắng lớn ở quốc lộ 4 muốn thừa thắng xông lên, và Vơ Nguyên Giáp cho rải truyền đơn là sẽ vào Hà Nội ăn Tết 1951. Với tài chỉ huy điêu luyện, Tướng De lattre chuyển thêm quân từ trong Nam ra bằng máy bay, và chặn đứng các sư đoàn Việt Minh ở Vĩnh Yên (13-17 Tháng Giêng, 1951) cách Hà Nội không tới 100km, bẻ găy chiến dịch thứ hai của Giáp tại Đông Triều (23-30 Tháng Ba, 1951), và sông Đáy (Tháng Năm và Sáu, 1951). Bắc Việt được cứu thoát. Tướng De lattre nhận thấy Pháp không thể thắng bằng quân sự ở Đông Dương và phải trả lại mau chóng độc lập toàn vẹn cho Việt Nam. Như vậy, Việt Nam phải có quân đội mạnh, lúc đầu với sự trợ giúp của quân đội Pháp, mới đứng vững được. Chính ông đă là người "đỡ đầu" thành h́nh Quân Đội Quốc Gia, bằng cách "Việt Nam hóa", hồi đó gọi là jaunissement các đơn vị chủ lực của Pháp. Đơn vị nào cũng phải có người Việt Nam với một tỷ lệ từ 30 đến 50%, những thành phần sẽ là ṇng cốt của quân đội Việt Nam tương lai (tất cả những đơn vị nhảy dù hay lê dương đều được tổ chức theo kiểu này). Ông cho mở các trường huấn luyện quân sự, như trường Vơ Bị Đà Lạt năm 1951, sau này được mở rộng và hiện đại hóa, tŕnh độ không kém các trường Saint Cyr hay West Point. Để làm gương, con trai duy nhất của ông là Trung Úy Bernard de Lattre chỉ huy một đơn vị thiết giáp gồm toàn binh sĩ Việt Nam, đă tử trận tại Ninh B́nh ngày 28 Tháng Năm năm 1951. Mặc dầu mang tang con, ông đă đến dự lễ phát phần thưởng cuối niên học 1950-1951 tại trường trung học Chasseloup Laubat ở Saigon: "...Các bạn hăy tỏ ra xứng đáng. Nếu các bạn thích cộng sản th́ các bạn hăy sang hàng ngũ Việt Minh, có những người bên bọn chúng chiến đấu giỏi nhưng cho một lư tưởng sai lầm. Nhưng nếu các bạn là người quốc gia th́ chiến tranh này là chiến tranh của các bạn..." Lúc này cũng là lúc chính phủ quốc gia kư lệnh động viên quân địch. Tháng Năm năm 1954, quân đội viễn chinh đă thua ở Điện Biên Phủ, nhưng ít người biết là 50% quân trú pḥng của căn cứ là người Việt, Thái, Nùng... 5.075 quân nhảy dù Pháp-Việt đă bỏ ḿnh trong trận Điện Biên Phủ, 2.495 người Pháp và gốc Âu Châu, 2.580 người Việt, trong đó có 629 SQ, HSQ và BS của Tiểu Đoàn 5 ND/VN. C̣n ai nhớ đến 1.000 tù binh dân công (PIM hay Prisonniers Internés Militaires) người Việt có mặt ngay từ phút đầu, với quy chế tù binh chiến tranh, họ đă phụ giúp đào hầm hố cho căn cứ, sau này tải đạn tiếp tế lương thức nước uống cho các cứ điểm khi trận chiến trở nên ác liệt, các lính tác chiến bị cầm chân tại chỗ. Trong mấy tuần cuối, đôi khi họ phụ bắn súng máy hay súng cối khi người lính chính quy ngă gục. Đào ngũ sang phía Việt Minh th́ quá dễ, v́ khi giao tranh đôi bên chỉ cách nhau có vài chục thước, nhưng tính ra chỉ khoảng 1% là trốn sang Bác với đảng. Ước tính hơn một nửa số PIM này đă thiệt mạng tại Điện Biên Phủ. Số c̣n lại, sau khi phải thu dọn chiến trường cho kẻ thắng, có lẻ đă bị thanh toán hay chết ṃn trong các lao tù, v́ sau này không c̣n tông tích ǵ của họ nữa. Tính ra trong chiến tranh Đông Dương (1947-1954), 400.000 người Việt Nam và một ít các sắc tộc khác như Thái, Nùng, Miên, Lào... đă chiến đấu chống cộng sản trong hàng ngũ quân đội Pháp hay các quân đội quốc gia tân lập. Bè lũ Việt Minh không thể nào vỗ ngực cho ḿnh độc quyền ái quốc, chống "thực dân Pháp", đánh cho "Mỹ cút Ngụy nhào". Hiệp định Genève cắt đôi đất nước đă khiến cho 1 triệu người ngoài Bắc bỏ lại tất cả để sống tự do trong Nam. Với bản tính gian ác lừa lọc, cộng săn đâu có rút hết ra Bắc như đă kư kết, và những thành phần nằm vùng lại bắt đầu phá hoại cùng phát động chiến tranh du kích từ năm 1957, đưa đến chiến tranh Việt Nam trở nên ngày càng khốc liệt với sự tham dự của Mỹ và các nước Đồng Minh. Quả thật như chiến lược gia Clausewitz đă nhận định: "Chiến tranh xảy ra không phải do bên bị tấn công mà do bên đi xâm lăng, v́ có tấn công mới có tự vệ, và như vậy mới có chiến tranh." Nói về Quân Đội Miền Nam trên 1 triệu người và chiến tranh Việt Nam kéo dài gần 20 năm phải mất nhiều thời giờ lắm. Tôi xin cố vắn tắt để chúng ta tạm nắm được vấn đề, và để có thời giờ cùng thảo luận. Sau khi năm 1956, Quân Đội Việt Nam dần dần thay đổi theo tổ chức quân đội Mỹ. Quân số gia tăng như tôi đă tŕnh bày, đến năm 1970 lên tới 1 triệu, phân phối như sau (kê khai rất sơ khởi):
Làm sao kể hết cả trăm cả ngàn trận mà Quân Đội Miền Nam đă tham dự để chống lại quân thù miền Bắc. Quư vị c̣n nhớ Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, những trận để đời của quân cán chính miền Nam và sức chịu đựng phi thường của người lính VNCH. Xin vắn tắt về Tết Mậu Thân. Các bạn sống ở ngoại quốc từ nhỏ, không thể nào hiểu và biết được cái không khí thiêng liêng của ngày Tết. Mặc dù chiến tranh, Tết đến là 2 bên hưu chiến 3 ngày. Tùy theo t́nh h́nh, đơn vị trưởng chúng tôi có quyền cho binh sĩ đi phép đến 50% quân số, có đơn vị c̣n phải nhắm mắt cho đi hơn nữa. Đôi khi về quê, binh lính của ta gặp cả người phía bên kia về ăn Tết với gia đ́nh, thôi th́ đôi bên làm ngơ như không thấy nhau. Tết mà! Nhưng... đến năm 1967, Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Hà Nội đă lấy quyết định khác. V́ cứ tiếp tục chiến tranh theo kiểu này, th́ thế nào cũng sẽ thua trước hỏa lực và tiềm năng hùng hậu của Hoa Kỳ; kinh tế ngoài Bắc kiệt quệ, sự hao ṃn về nhân lực, tài lực đă đến mức báo động. Thà đánh "xả láng" một keo bạc, may ra gỡ lại được ván cờ:
Đầu năm dương lịch 1968, Nguyễn Duy Trinh, bộ trưởng ngoại giao Việt Cộng, c̣n ngỏ ư muốn ḥa đàm cốt ư đánh lạc hướng chú tâm của Hoa Kỳ. Ít lâu sau đó, Hồ chí Minh đọc 4 câu thơ chúc Tết trên đài phát thanh Hà Nội, hàm ư gởi mật lệnh tổng tấn công. Nguyên văn 4 câu thơ này như sau:
Khi nghe, chẳng ai tin và cho rằng những lời thơ này chỉ có tính cách khích lệ và cổ vũ cho một chiến thắng mơ ước xa xăm. Nhưng sự thật đó là lệnh Tổng Công Kích Tết Mậu Thân. Trong đêm 30 Tháng Giêng năm 1968, tức đêm mồng 1 Tết, 84.000 quân Việt Cộng và Bắc Việt tấn công 36 tỉnh trên 44, 5 đô thị lớn trên 6, tất cả các phi trường và trên 100 làng và quận lỵ. Lệnh cho quân cộng sản là phải chiếm đóng các khu đông người và b́nh dân để dễ tuyên truyền và dùng dân làm bia đỡ đạn khi phải giao tranh với Quân Đội Cộng Ḥa. Trái với ước đoán của phia cộng sản, dân miền Nam không nổi dậy theo "cách mạng" mà lại t́m đủ mọi cách để chạy về vùng Quốc Gia. Quân ta, nhiều nơi chỉ c̣n 30% quân số đă chống trả mănh liệt, địch không chiếm được một nơi nào trừ 3/4 thành phố Huế bị địch chiếm đóng 3 tuần và tàn sát cả bao ngàn dân như mọi người biết. Quân đội Mỹ th́ chỉ chống trả khi bị tấn công, ngoại trừ thủ đô Sài G̣n được 5.000 quân của Tướng Weyand tiếp cứu ngay sáng mồng 2 Tết, và Huế được TQLC Mỹ tiếp tay với quân ta 1 tuần lễ sau khi cộng sản chiếm thành phố. Số thương vong của cộng sản trong tháng đầu Mậu Thân (29/1 đến 29/2, 1968) là 45.000 chết được phân chia như sau: 18.600 quân chính quy, 9.000 quân lo tiếp vận, 12.400 du kích, 5.000 cán bộ hay chính trị viên. Đến cuối Tháng Ba nam 1968, con số này lên tới 58.363 người. Ta bắt được 9.461 tù binh. Cộng sản đă sát hại khoảng 7.000 thường dân trong thời gian chiếm Huế. Các mồ tập thể được khai quật từ sau khi ta chiếm lại Huế, từ ngày 24 Tháng Hai năm 1968 cho đến cuối năm 1969 đă cho phép kiếm lại được 5.000 thi thể. Đến nay vẫn c̣n 2.000 người mất tích. Trên toàn quốc, 14.300 thường dân đă bỏ mạng trong trận này, 24.000 người đă bị thương, 72.000 người mất hết nhà cửa, 627.000 phải tị nạn. Tổn thất quân đội ta đến cuối Tháng Ba năm 1968 là 4.954 hy sinh, 15.097 bị thương, 926 mất tích. (tại SĐND sĩ quan chết và bị thương nhiều hơn HSQ). Tổn thất Đồng Minh (Mỹ, Đại Hàn, Úc): 4.124 hy sinh, 19.285 bị thương, 604 mất tích. Thất bại nặng nề vừa chính trị vừa quân sự của cộng sản, nhưng đối với quốc tế và dư luận Mỹ, th́ lại là một chiến thắng lớn. Chúng ta sẽ quay lại vấn đề này. Nói đến Mậu Thân ngoài Trung, chúng ta không thể quên được Khe Sanh, căn cứ gần biên giới Lào-Việt mà tướng Giáp công hăm từ 20 Tháng Giêng năm 1968 để đánh lạc hướng tổng công kích sắp tới, và để cầm chân TQLC Mỹ tại đó. Hai sư đoàn Bắc Việt 304 và 325C cùng dân công tiếp vận, tổng cộng 45.000 người đă vây đánh Khe Sanh trong 77 ngày, từ 20 Tháng Giêng đến 5 Tháng Tư năm 1968, tức 22 ngày lâu hơn Điện Biên Phủ. Căn cứ do 6.000 binh sĩ thuộc SĐ3/ TQLC Mỹ pḥng thủ cùng 600 binh sĩ Việt Nam thuộc TĐ.37/ BĐQ (TĐT Đại Úy Hoàng Phổ) được không vận từ Phú Lộc đến Khe Sanh ngày 27 Tháng Giêng và trấn giữ phía Đông căn cứ suốt trận đánh. Dưới hỏa lực của quân trú pḥng và yểm trợ phi pháo như thác lũ cửa KQ Mỹ, tướng Giáp, tưởng làm lại một Điện Biên Phủ thứ hai, đă phải rút 2 sư đoàn 304 và 325C gần như tan ră về Bắc. Hai đại đơn vị này kẹt ở Khe Sanh, không tiếp tay được cho mặt trận Huế. Báo chí Mỹ và ngoại quốc không hề đá động đến vai tṛ của TĐ/BĐQ Việt Nam. Tới đây, tôi thách đố bạn nào kiếm được cho tôi một bài báo ngoại quốc thời đó nói về đơn vị này tại Khe Sanh. Với sự trợ giúp tận t́nh của Khối Cộng Sản Quốc Tế, coi thường mạng sống của dân Việt, đảng cộng sản ngoài Bắc lại chỉ thị cho tướng Giáp sửa soạn một cuộc tấn công quy mô khác vào năm 1972, với phương tiện hùng hậu pháo binh và thiết giáp (lần đầu thấy xuất hiện xe tank T.54 Nga Sô). Trận chiến kéo dài trong 3 Tháng Tư, Năm và Sáu 1972 mệnh danh Mùa Hè Đỏ Lửa, đă tỏ cho thế giới sự can trường của người lính VNCH, khi họ được chỉ huy đàng hoàng và đúng mức. Mở màn là trận mưa pháo trên chiến trường Quảng Trị, rồi đến Cao Nguyên, dọc vùng Duyên Hải, rồi đến vùng 3 chiến thuật tại B́nh Long, phía Bắc Sài G̣n. Địch chiếm thị xă Lộc Ninh ngày 7 Tháng Tư 1972 gần biên giới Cao Miên, 20km về phía Nam là An Lộc, nằm trên quốc lộ 13 nối liền với Sài G̣n. Mất An Lộc là Sài G̣n bị đe dọa. Trong vùng, địch sử dụng 3 sư đoàn (công trường) 5, 7 và 9, SĐ pháo 75 trang bị thêm súng pḥng không và 3 TĐ thiết giáp. Trận An Lộc kéo dài hơn 2 tháng từ 13 Tah1ng Tư năm 1972 đến 29 Tháng Sáu 1972 ngày mà An Lộc được giải tỏa bởi tiếp viện từ phía Sài G̣n lên... An Lộc dược Sư Đoàn 5 Bộ Binh, Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân của ta chống giữ và lữ đoàn 1 nhảy dù cùng liên đoàn 81 biệt cách dù đến tăng cường sau. Thị xă bị pháo của địch cày nát, nhưng địch không sao chiếm nổi mặc dầu nhiều đợt xung phong có thiết giáp yểm trợ. Bên ta được không quân Việt-Mỹ ( B.52) yểm trợ tối đa, kể cả tiếp tế thả dù (3.686 tấn đạn dược, xăng nhớt, lương thực, thuốc men).
Để kết luận, chúng ta hăy so sánh trận đánh An Lộc với trận Điện Biên Phủ cách đây hơn 50 năm:
Vậy ư nghĩa Ngày Quân Lực hôm nay là để chúng ta tưởng nhớ đến người lính VNCH, mà có lẽ trong lịch sử thế giới, không có người lính nước nào phải chịu một số phận nghiệt ngă như vậy! Học giả Phạm Kim vinh trong cuốn "Thiên Anh Hùng Ca" việt cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, đă tả những người lính chiến đấu trong những điều kiện khắc nghiệt suốt hơn hai mươi năm, họ đi qua một con đường dài của lịch sử mà ông cho là "kể về sự khắc khổ và chịu đựng c̣n vượt xa Vạn Lư Trường Chinh của Mao trạch Đông, và về tính cách thiêng liêng, vị tha và cao quư, c̣n vượt xa các cuộc Thánh Chiến thời Trung cổ." Vậy tại sao một quân đội hơn 1 triệu người, đầy kinh nghiệm chiến đấu, với 300.000 thương vong trong một chiến tranh kéo dài 25 năm, đă tan hàng trong có 55 ngày, làm cả thế giới và ngay đối phương phải ngỡ ngàng...? Ai cũng biết câu nói bất hủ của Clausewitz: "Chiến tranh là sự nối tiếp của chính trị dưới h́nh thức khác" (La guerre est la continuation de la politique par d'autres moyens)". Khi lâm chiến, nếu không thắng th́ chỉ có thua, chứ không có giải pháp trung dung nào có thể thay thế chiến thắng (In war, there is no substitude for victory - Gen. Mc Arthur). V́ vấn đề sống c̣n và tại thân phận nhỏ bé, chúng ta đă rơi vào quỹ đạo của 'ông đồng minh' Hoa Kỳ. Vậy chủ đích của Hoa Kỳ ở Việt Nam có phải là chiến thắng không? Câu trả lời tất nhiên là KHÔNG! Kinh nghiệm chiến trường từ xưa tới nay, bắt các nước lâm chiến phải theo vài quy luật, nếu không muốn thất bại hay bị hủy diệt. Xin tŕnh với quư vị vài quy luật chính về chiến tranh mà tôi đă học được tại trường chỉ huy tham mưu cao cấp tại Hoa Kỳ, và cũng theo trường tham mưu đó, hầu hết các quy luật về chiến tranh đă không được tôn trọng trong chiến tranh Việt Nam:
Y Sĩ Đại Tá Hoàng Cơ Lân |