|
Tiểu
sử và Chiến công của Trung tướng Ngô Quang Trưởng
Các bài của nhật
báo Người Việt
Các bài của nhật báo
Việt Báo
Các bài của báo
Cali Today
Lịch sử và Nhân
chứng bài của Lê Quế Lâm trích từ Tin Paris
Phó đô đốc
Chung Tấn Cang
Trung tướng
Nguyễn Chánh Thi
Đại Tướng
Cao Văn Viên
Thiếu Tá
Đỗ văn Trảng
|
Cập
nhựt ngày
17-01-2010
Trung tướng Ngô Quang Trưởng Một Ngôi Sao Sáng của cuộc chiến Việt
Nam vừa tắt, một thiên tài quân sự đă vĩnh viễn ra đi
Sau nhiều tháng trời bị bạo bệnh, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng một trong
những vị Tướng anh hùng của cuộc chiến đă giả từ mọi người để về nơi yên
nghĩ. Ông mất lúc 3 giờ 30 sáng ngày thứ hai 22 tháng 1 năm 2007 thọ 77
tuổi ... (Nhấn và đây để nghe bài của
Đài RFA trong bản tin ngày 2007/01/23 lúc 06:30
http://www.rfa.org/service/mp3/VIE/ProgName-VIE-2007-0122-1830.m3u,
sau các tin đầu giờ thường lệ về Việt Nam, Ban Việt Ngữ đài RFA có bài
về Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, phát sau
khoảng 7 phút 12 giây)
hoặc xem các bài của báo Người Việt
, Việt Báo,
Cali Today
Tiểu sử và Chiến công của Trung
tướng Ngô Quang Trưởng

Trung Tướng Ngô Quang Trưởng
(1932
2007 ) là một
trung tướng trong
Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa,
phục vụ trong những năm
1954-1975.
Ông được xem là người hùng Quảng Trị khi đánh bật quân cs Bắc
Việt , tái chiếm Quảng Trị 1972 .
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng sinh
năm 1932, tốt nghiệp Khóa 4
Liên trường Vơ khoa Sĩ quan Trừ bị Thủ
Đức năm 1954, ra trường được bổ nhiệm đại đội trưởng đại đội
1, Tiểu đoàn 5 Nhảy dù.
-
Năm
1964, ông
thăng cấp thiếu tá và được bổ nhiệm Tiểu đoàn trưởng
Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù
(TĐ5ND). Cùng năm
1964, TĐ5ND
do ông chỉ huy trực thăng vận nhảy vào mật khu Đỗ Xá, thuộc quận
Minh Long, tỉnh Quảng Ngăi, phá vỡ căn cứ địa của Bộ Tư lệnh Mặt
Trận B1 của cộng sản Bắc Việt ,tịch thu 160 súng đủ loại.
-
Năm
1965, Tiểu
Đoàn 5 Nhảy Dù do ông chỉ huy trực thăng vận nhảy vào mật khu
Hắc Dịch, thuộc vùng núi ông Trinh, tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa), căn
cứ của S Đ 7 cộng sản BV. Sau hai ngày chạm súng và gây thiệt
hại nặng cho hai Trung Đoàn Q762 và Q762 thuộc S Đ 7 cs BV, ông
được đặc cách thăng cấp trung tá tại mặt trận và được tưởng
thưởng
Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.
-
Năm
1967, các
đơn vị thuộc SĐ1BB do ông chỉ huy, gồm Đại Đội Hắc Báo Trinh
Sát, cùng Chi Đoàn 2/7 Thiết Vận Xa M113, tăng phái Tiểu Đoàn 9
Nhảy dù do
Thiếu tá
Nguyễn Thế Nhă chỉ huy, tấn công và phá vỡ hạ tầng cơ sở và toàn
bộ lực lượng cộng sản thuộc mặt trận Lương Cổ-Đồng Xuyên-Mỹ Xá
thuộc quận Hương Trà, tỉnh
Thừa Thiên.
Sau trận này ông thăng cấp
chuẩn tướng.
-
Năm
1968, các
đơn vị thuộc SĐ1BB do ông chỉ huy, tăng phái Chiến Đoàn I Nhảy
Dù (gồm các Tiểu Đoàn 2, 7 và 9 Nhảy Dù) do
Trung tá Lê
Quang Lưởng ( sau này là Thiếu Tướng ) chỉ huy đă pḥng thủ
thành công tại
Huế trong
26 ngày (30
tháng 1 đến
24 tháng 2,
1968). Các đơn vị nầy đẩy bật các đơn vị xung kích của cs BV,
gồm Đoàn 5 (các Tiểu Đoàn K4A, K4B, TĐ 12 đặc công nội thành,
Thành Đoàn Huế) Đoàn 6 (các Tiểu Đoàn K41, K6, TĐ 13 đặc công
nội thành Huế, các Đại đội đặc công 15,16,17,18, tăng cường một
đại đội súng pḥng không 37mm, hai đại đội cs quận Hương Trà,
Phong Điền, hai đại đội biệt nội thành Huế), và hai Tiểu Đoàn
416,418. Tướng Trưởng và các đơn vị của ông đă giữ vững Huế và
gây thiệt hại nặng nề cho các đơn vị tấn công Huế. Sau trận
Mậu Thân
ông được đặc cách thăng cấp
thiếu tướng
và được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh Quân đoàn IV, Quân khu IV.
-
Năm
1972 mùa hè
đỏ lửa, quân cs BV mở cuộc tấn công vào QK I. Lực lượng Quân
lực Việt Nam Cộng ḥa tại Quân khu I bị tổn thất tỉnh Quảng Trị
. Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động vào chức vụ Tư lệnh Quân
đoàn I và Quân khu I thay thế Trung Tướng Hoàng Xuân Lăm. Quân
khu I , được tăng cường toàn bộ lượng tổng trừ bị của Quân lực
Việt Nam Cộng ḥa và được sự yểm trợ tầm xa bởi
Hạm đội 7 Hoa Kỳ,
đẩy lui và tái chiếm Thành cổ Quảng Trị và tất cả các phần đất
bị chiếm phía Nam sông Mỹ Chánh,Cửa Việt , gây nhiều thiệt hại
cho các đơn vị cs Bắc Việt Năm
1975, . Với
chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I, ông bị lấy đi Sư đoàn
Dù đang cùng S Đ I và Sư đ̣an Thủy Quân Lục Chiến trấn thủ QK I.
Ông được lệnh phải tử thủ Huế, nhưng sau ít lâu lại nhận lệnh di
tản toàn bộ Quân đoàn I vào
Đà Nẵng. Do
thiếu thời gian chuẩn bị , cuộc di tản hoàn toàn thất bại,
gây tổn thất cho lực lượng quân sự và cơ giới của Quân đoàn I
trong thời gian ngắn, v́ hỗn loạn và lạc ngũ . Thiệt hại đáng
kể nhất là việc quân đội
Việt Nam Cộng Ḥa
mất hoàn toàn quyền kiểm soát vùng lănh thổ có 3 triệu dân,
và thiệt hại hai sư đoàn thuộc hàng thiện chiến nhất của
Quân lực Việt Nam Cộng ḥa
là
Sư đoàn 1 Bộ Binh
và
Sư đoàn Thủy quân Lục chiến,
đưa đến sụp đổ toàn bộ miền Nam một cách nhanh chóng bất ngờ.
Ông vào
Sài G̣n và
khai bệnh, dưỡng bệnh tại Sài G̣n cho đến khi Sài G̣n thất thủ.
Ông di tản cùng gia đ́nh qua
Hoa Kỳ,
định cư tại tiểu bang
Virginia.
Ông cũng là một trong số ít tướng lĩnh Quân lực Việt Nam
Cộng Ḥa được đánh giá là thanh liêm trong sạch "Nhất Thắng, nh́ Chinh,
tam Thanh, tứ Trưởng" .
Các tác phẩm quân sự
Bắt đầu năm
1979, theo lời mời của
Trung tâm Quân sử Quân lực Hoa Kỳ
(U.S. Army Center of Military History), ông ghi lại kinh nghiệm
chiến đấu qua 3 quyển sách hiện c̣n lưu trữ tại trung tâm kể trên.
-
"The Easter Offensive of 1972" (1983),
-
"Territorial Forces" (1984), và
-
"RVANF and US Operational Cooperational
Coordination" (1984).
Nhận
định về Ngô Quang Trưởng
Trong hồi kư của Đại Tướng
H. Norman Schwarzkopf, nguyên
Tư lệnh Bộ chỉ huy Trung Đông và tư lệnh quân đội Đồng Minh trong
chiến dịch Băo Sa Mạc
1991, tướng Schwarzkopf viết
"...[General Truong is] the most brilliant tactical commander I'd
ever known ...", tạm dịch "[Trung Tướng Trưởng là] người chỉ huy
chiến thuật kiệt xuất nhất mà tôi từng được biết".
Trung tá George W. Smith, nguyên cố
vấn Sư đoàn 1 Bộ binh, trong bút kư "The Siege at Hue" viết: "General
Truong was tough, disciplined, and dedicated to his military profession.
Unlike many of his contemporaries who had climbed the ranks through
political influence, nepotism, or cold, hard cash, he had earned his
stars on the battlefield. He was viewed as a self-starter, without a
hint of corruption or ego. He was regarded by the Americans as
unquestionably the finest senior combat commander in the South
Vietnamese army."; tạm dịch "Tướng Trưởng là một người cứng rắn, kỷ
luật, và hết ḷng với binh nghiệp. Không như một số đồng liêu của ông
thăng quan tiến chức bằng quen biết hay lo lót, ông đeo sao trên vai
bằng chiến công tại mặt trận. Ông là nguời cần mẫn, thanh liêm, và không
tự cao tự đại. Người Mỹ cho rằng ai cũng phải nh́n nhận ông là người chỉ
huy chiến đấu tài giỏi nhất của quân đội Nam Việt Nam."
THƯƠNG TIẾC MỘT V̀ SAO
Thiên hà, thương
tiếc cánh sao rơi
Dũng Tướng! Thiên
thu vĩnh biệt Người!!
Từ phút hiến thân
bồi Tổ Quốc
Đến ngày mất
súng, nát cơ ngơi
Bốn vùng chiến
thuật tài năng rạng
Ba cơi nhân gian
đạo đức ngời
Vong quốc, anh
hùng dù thế bí
Vẫn trong muôn
thuở tấm gương đời !
Kính Điếu
Một người dân tị nạn
CSVN
Ngô Minh Hằng
Trở
về đầu trang
http://www.nguoi-viet.com
Cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng qua đời
Monday,
January 22, 2007
Minh Tường/Người Việt
FAIRFAX, Virginia (NV)
- Một nguồn tin thân cận của báo Người Việt cho biết ông Ngô Quang
Trưởng, cựu trung tướng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, vừa qua đời vào sáng
ngày 22 Tháng Giêng, 2007 tại thành phố Fairfax, Virginia, hưởng thọ 78
tuổi.
Trả lời phỏng vấn báo
Người Việt, nhà văn Duy Lam, từng là chánh văn pḥng cho Trung Tướng Ngô
Quang Trưởng ở Quân Đoàn 1, nói: “Sáng nay, tôi được vợ của ông gọi điện
thoại báo cho biết ông đă qua đời một cách rất nhẹ nhàng tại bệnh viện
Falls Church, Virginia. Trước đó một hôm, bệnh t́nh của ông trở nên
nặng. Khi đưa vào bệnh viện th́ ông bị hôn mê. Ông Trưởng bị ung thư
phổi ba năm nay.”
Nhà văn Duy Lam nói
tiếp: “Theo vợ của ông Trưởng cho tôi biết, lễ phát tang cố trung tướng
sẽ được tổ chức vào sáng Thứ Tư tới đây tại Fairfax Memorial, Fairfax,
Virginia. Theo ư của ông Trưởng khi c̣n sống, gia đ́nh sẽ hỏa thiêu xác
và đưa tro về thờ tại nơi sinh quán của ông.”
Ông Ngô Quang Trưởng
sinh năm 1929 tại Bến Tre, Việt Nam. Năm 1953, ông vào trường Sĩ Quan
Thủ Đức, Khóa 4 phụ Cương Quyết và ra trường năm 1954 với cấp bậc thiếu
úy trừ bị.
Sau đó, ông Ngô Quang
Trưởng t́nh nguyện gia nhập binh chủng nhảy dù và lần lượt làm các chức
trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng và tham mưu trưởng
Liên Đoàn Nhảy Dù.
Năm 1966, ông được
vinh thăng đại tá và giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Năm 1967, ông
lên chuẩn tướng và năm 1968 lên thiếu tướng. Sau đó, Thiếu Tướng Ngô
Quang Trưởng được vinh thăng trung tướng.
Năm 1970, ông trở
thành tư lệnh Quân Đoàn 4 và Quân Khu 4.
Năm 1972, ông là tư
lệnh Quân Đoàn 1 và Quân Khu 1 và chỉ huy cuộc tái chiếm cổ thành Quảng
Trị.
Ông Ngô Quang Trưởng
đến Hoa Kỳ năm 1975. Cho đến ngày qua đời, ông rất ít khi xuất hiện
trước công chúng. (M.T.)
Trở
về đầu trang
Chương tŕnh tang lễ và tiểu sử cố Trung Tướng Ngô Quang
Trưởng
Tuesday,
January 23, 2007/Người
Việt
FAIRFAX, VA.- Tiếp theo những tin tức được loan báo ngày Thứ Ba, một
nguồn tin từ Fairfax, tiểu bang Virginia, cho biết, hiện nay thi hài cựu
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng hiện đang được quàn tại nhà quàn Fairfax
Memorial Home, địa chỉ 9902 Braddock Road, Fairfax, VA 22032, điện thoại
(703) 425-9702.
Trong chương tŕnh tang lễ sẽ có những điểm chính sau đây:
- Bắt đầu thăm viếng: Thứ Tư 24 Tháng Giêng, 2007.
- Các hội đoàn cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa thăm viếng
và thực hiện lễ nghi quân cách: Thứ Năm 25 Tháng Giêng, 2007.
- Lễ di quan và hỏa thiêu tại nhà quàn: 3 giờ chiều ngày Thứ Năm 25
Tháng Giêng, 2007.
CHƯƠNG TR̀NH TANG LỄ
- Thứ Tư (24 Tháng Giêng, 2007) từ 11 giờ sáng tới 9 giờ tối: Gia
đ́nh, thân nhân và thân hữu thăm viếng.
- Thứ Năm (25 Tháng Giêng, 2007) từ 10 giờ sáng tới 2 giờ chiều:
Nghi lễ thăm viếng, phủ quốc kỳ của các hội đoàn cựu quân nhân Việt
Nam Cộng Ḥa tổ chức.
- Di quan (hỏa táng): 3 giờ chiều cùng ngày.
Được biết trong tuần cuối cùng, Trung Tướng Trưởng có vào bệnh viện v́
yếu sức nhưng rồi lại về nhà khá vui vẻ, b́nh thường. Tối ngày Thứ Bảy,
20 Tháng Giêng, 2007, Trung Tướng Trưởng được nhập bệnh viện v́ yếu sức.
Ngày Chủ Nhật, 21 Tháng Giêng, 2007: Trung Tướng Trưởng được cho thở
dưỡng khí và rồi nằm ngủ từ 5 giờ chiều (sau khi tiêm thuốc giảm đau)
tới 3:20 sáng Thứ Hai (22 Tháng Giêng, 2007) th́ ra đi trong yên b́nh.
TIỂU SỬ CỐ TRUNG TƯỚNG NGÔ
QUANG TRƯỞNG
Ngô Quang Trưởng (sinh 13 Tháng Mười Hai, 1929 - mất
ngày 22 Tháng Giêng, 2007) là một trung tướng trong Quân Lực Việt
Nam Cộng Ḥa, phục vụ trong những năm 1954-1975. Ông được xem là
người hùng Quảng Trị khi đánh bật Cộng quân, tái chiếm thành cổ
Quảng Trị năm 1972.
Con đường binh nghiệp
Ngô Quang Trưởng sinh năm 1932, tốt nghiệp khóa 4 Liên Trường Vơ
Khoa Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức năm 1954, ra trường được bổ nhiệm Đại
Đội Trưởng Đại Đội 1, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù.
-
- Năm 1955, ông tham gia cuộc tiễu trừ lực lượng B́nh Xuyên
và được đặc cách thăng cấp trung úy tại mặt trận.
-
- Năm 1963, ông thăng cấp đại úy.
-
- Năm 1964, ông thăng cấp thiếu tá và được
bổ nhiệm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù. Cùng năm
1964, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù do ông chỉ huy trực thăng vận nhảy
vào mật khu Đỗ Xá, thuộc quận Minh Long, tỉnh Quảng Ngăi,
phá vỡ căn cứ địa của Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B1 của Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam, tịch thu 160 súng đủ loại.
-
- Năm 1965, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù do ông chỉ
huy trực thăng vận nhảy vào mật khu Hắc Dịch, thuộc vùng núi
ông Trinh, tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa), căn cứ của Công Trường 7
của Cộng quân. Sau hai ngày chạm súng và gây thiệt hại nặng
cho hai Trung Đoàn Q762 và Q762 thuộc Công Trường 7, ông
được đặc cách thăng cấp trung tá tại mặt trận và được tưởng
thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.
-
- Năm 1965 sau trận Hắc Dịch, ông được bổ
nhiệm chức vụ Tham Mưu Trưởng Lữ Đoàn Nhảy Dù. Đến cuối năm
1965, bổ nhiệm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn Nhảy Dù.
-
Năm
1966, sau biến cố bạo động miền Trung, ông được bổ nhiệm Tư
Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, dưới quyền chỉ huy của Tư Lệnh Quân
Đoàn I, Thiếu Tướng Hoàng Xuân Lăm.
-
Năm 1967, các đơn vị thuộc Sư Đoàn 1
Bộ Binh do ông chỉ huy, gồm Đại Đội Hắc Báo Trinh Sát, cùng
Chi Đoàn 2/7 Thiết Vận Xa M113, tăng phái Tiểu Đoàn 9 Nhảy
Dù do Thiếu Tá Nguyễn Thế Nhă chỉ huy, tấn công và phá vỡ hạ
tầng cơ sở và toàn bộ lực lượng du kích địa phương thuộc mặt
trận Lương Cổ-Đồng Xuyên-Mỹ Xá thuộc quận Hương Trà, tỉnh
Thừa Thiên. Sau trận này ông thăng cấp chuẩn tướng.
-
Năm 1968, các đơn vị thuộc Sư Đoàn 1
Bộ Binh do ông chỉ huy, tăng phái Chiến Đoàn I Nhảy Dù (gồm
các Tiểu Đoàn 2, 7 và 9 Nhảy Dù) do Trung Tá Lê Quang Lưỡng
chỉ huy, đă pḥng thủ thành công tại Huế trong 26 ngày (30
Tháng Giêng đến 24 Tháng Hai, 1968). Các đơn vị này đẩy bật
các đơn vị xung kích của Cộng quân, gồm Đoàn 5 (các tiểu
đoàn K4A, K4B, Tiểu Đoàn 12 Đặc Công Nội Thành, Thành Đoàn
Huế), Đoàn 6 (các tiểu đoàn K41, K6, Tiểu Đoàn 13 Đặc Công
Nội Thành Huế, các đại đội đặc công 15, 16, 17, 18, tăng
cường một đại đội súng pḥng không 37mm, hai đại đội du kích
quận Hương Trà, Phong Điền, hai đại đội biệt nội thành Huế),
và hai tiểu đoàn 416, 418 thuộc Đoàn Cù Chính Lan (Đoàn 9).
Tướng Trưởng và các đơn vị của ông đă giữ vững Huế và gây
thiệt hại nặng nề cho các đơn vị tấn công Huế. Sau trận Mậu
Thân ông được đặc cách thăng cấp thiếu tướng và được bổ
nhiệm chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV.
-
Năm
1970 ông được thăng cấp trung tướng.
-
Năm 1972, Cộng quân mở chiến dịch
Trị-Thiên. Lực lượng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa tại Quân Khu
I đă bị nhiều tổn thất. Tướng Ngô Quang Trưởng được điều
động vào chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I thay thế
Tướng Hoàng Xuân Lăm. Quân Khu I được tăng cường toàn bộ
lượng tổng trừ bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa và được sự
yểm trợ tầm xa bởi Hạm Đội 7 Hoa Kỳ đẩy lui và tái chiếm
thành cổ Quảng Trị và tất cả các phần đất bị chiếm phía Nam
sông Mỹ Chánh, gây nhiều thiệt hại cho các đơn vị Cộng quân.
-
Năm 1975, Cộng quân mở chiến dịch
Huế-Đà Nẵng. Với chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I,
ông được lệnh tử thủ Huế, nhưng sau ít lâu lại nhận được
lệnh bỏ Huế về Đà Nẵng. Hai thành phố này rơi vào tay Cộng
quân dẫn theo sự sụp đổ hoàn toàn của những tỉnh và thành
phố suốt dọc miền Trung. Tướng Ngô Quang Trưởng trở vào Sài
G̣n và sau đó đă di tản cùng gia đ́nh sang Hoa Kỳ, định cư
tại tiểu bang Virginia.
Ông cũng là một trong số ít tướng lĩnh Quân Lực Việt
Nam Cộng Ḥa được đánh giá là thanh liêm trong sạch “nhất Thắng, nh́
Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng”. (Nguyễn Đức Thắng, Phan Trọng Chinh,
Nguyễn Viết Thanh, Ngô Quang Trưởng)
Cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng từ trần vào lúc 3 giờ 20 sáng ngày
22 Tháng Giêng năm 2007.
Các tác phẩm quân sự
Bắt đầu năm 1979, theo lời mời của Trung Tâm Quân Sử Quân Lực Hoa Kỳ
(U.S. Army Center of Military History), ông ghi lại kinh nghiệm
chiến đấu qua 3 quyển sách hiện c̣n lưu trữ tại trung tâm kể trên.
-
“The Easter Offensive of 1972” (1983);
-
“Territorial Forces” (1984); và
-
“RVANF and US Operational Cooperational Coordination” (1984).
Trong suốt thời gian định cư tại Hoa Kỳ, ông ít xuất
hiện trước công chúng
Người Việt
Trở
về đầu trang
Ngô Quang Trưởng: một hổ tướng thanh sạch
Tuesday,
January 23, 2007
Vũ Ánh
Cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đă qua đời tại Virginia, miền Đông
Hoa Kỳ, sau 3 năm tranh đấu với căn bệnh ung thư phổi, hưởng thọ 78
tuổi. Trong đời binh nghiệp, ông đă nhận trách nhiệm chỉ huy từ cấp
trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, rồi tham mưu
trưởng Liên Đoàn Nhảy Dù; trước khi ông sang bộ binh nắm giữ các
chức vụ quan trọng như Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Tư Lệnh Quân Đoàn
4 và Vùng 4 Chiến Thuật, rồi Tư Lệnh Quân Đoàn 1 và Vùng 1 Chiến
Thuật.
Điểm đặc biệt nơi vị tướng này là ngoài tài điều binh của ông, dân
quân, cán chính Việt Nam Cộng Ḥa ai cũng nhắc nhở tới đời sống
thanh sạch của riêng ông. Cũng không ai quên lối sống giữ ǵn kỷ
luật quân đội hết sức nghiêm minh, nhưng lúc nào cũng bày tỏ đầy
ḷng nhân ái với quân và với người dân. Những người thân cận với
Tướng Ngô Quang Trưởng thường nhắc tới vẻ mặt khắc khổ của ông, cứ
trông dáng người của ông đủ thấy một tâm hồn, một cuộc đời liêm
chính mà ông đă giữ được, từ thủa thanh niên, thời trong quân ngũ,
cho tới khi sống lưu vong ở đất người. Chúng ta có thể phải viết một
cuốn sách rất dày về những giai thoại chung quanh ông và một tổng
hợp của bức chân dung một mănh tướng trong sạch có thể kể vào một
trong số ít tướng lănh hàng đầu của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Trong quân đội và trong dư luận dân chúng miền Nam Việt Nam, người
ta truyền tai nhau một câu xếp hạng những tướng thanh liêm: “Nhất
Thắng (Nguyễn Đức Thắng), nh́ Chinh (Phan Trọng Chính), tam Thanh
(Nguyễn Viết Thanh) tứ Trưởng (Ngô Quang Trưởng). Trong bốn vị
“tướng sạch” mà báo Diều Hâu nêu danh đó, Tướng Nguyễn Viết Thanh đă
qua đời, ba ông kia đều sống “ẩn dật,” giữ một thái độ cao thượng
đáng kính trong suốt những năm lưu vong. Trong cuộc đời binh nghiệp,
Tướng Phan Trọng Chinh từng tham dự đảo chính từ năm 1960, Tướng
Nguyễn Đức Thắng cũng từng tham gia chính phủ làm chức bộ trưởng,
chỉ có ông Ngô Quang Trưởng là một vị tướng thuần túy, chỉ cả cuộc
đời trưởng thành dành cho quân đội. Ông là một vị tướng đứng ngoài
các tranh chấp chính trị. Và đó là một điều khiến anh em quân đội
vừa kính trọng, vừa cảm thấy gần gũi ông.
Điểm nổi bật nhất trong đời binh nghiệp của ông đó là trong khi ông
chỉ huy những đại đơn vị ông vẫn tránh cho cá nhân ông và những sĩ
quan, binh lính dưới quyền khỏi bị cuốn hút vào những ảnh hưởng
chính trị, phe phái, mặc dù trong gia đ́nh ông nhiều người hoạt động
chính trị. “Quân đội là quân đội. Tôi nhận lệnh của Tổng Tư Lệnh
Quân Đội”. Đó là câu nói trong lần đầu tiên ông tiếp xúc với báo chí
ngoại quốc và trong nước tại Dinh Độc Lập, vài ngày trước khi ông
rời chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn IV và Vùng IV Chiến Thuật để ra nắm Tư
Lệnh Quân Đoàn I và vùng I Chiến Thuật thay thế Tướng Hoàng Xuân
Lăm.
Tôi c̣n nhớ hôm đó, là một phóng viên mặt trận, tôi hỏi ông có phải
việc đưa ông ra Vùng I và Quân Đoàn I là do Tướng Hoàng Xuân Lăm đă
thất bại trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 hay không. Trong đời làm
phóng viên mặt trận, tôi đă gặp ông rất nhiều lần ở vùng Đồng Bằng
Cửu Long cũng như vùng Hỏa Tuyến (Vùng I), nhưng mỗi lần giơ
microphone của máy ghi âm ra là ông “lắc đầu”, bắt tay, rồi bỏ đi.
Ông không tránh gặp báo chí; nhưng nếu nhà báo có gặp cũng chẳng bao
giờ nghe ông nói ǵ. Ông không bao giờ nghĩ đến việc dùng những
phương tiện truyền thông để đánh bóng cho cá nhân ḿnh, nhưng Tướng
Ngô Quang Trưởng đă được tuần báo TIME (?Newsweek?) ghi vào danh
sách 52 nhà lănh đạo tương lai có ảnh hưởng tại Á Châu, trong một số
báo đầu năm 1975.
Nhưng ai cũng biết, sau biến cố 30 Tháng Tư 1975, lịch sử quay về
hướng khác. Vị cho vị tướng lănh tài ba với nhân cách cao thượng này
phải giă từ vũ khí, chấp nhận sống cuộc đời lưu vong. Tuy trong hoàn
cảnh đó, ông vẫn giữ đúng tư cách thanh cao trong một cuộc sống thầm
lặng. Đến nay, chắc ông đă được giải thoát, không cần mang tấc ḷng
u uẩn của ḿnh xuống dưới tuyền đài.
Tôi chỉ biết về Tướng Ngô Quang Trưởng một chút như vậy; với ḷng
ngưỡng mộ ông của một nhà báo từng nhiều lần có dịp tường thuật về
những chiến thắng quân sự mà các đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa
dưới quyền điều động của ông đă gặt hái được. Quư bạn biết nhiều hơn
xin góp thêm tài liệu, để chúng ta cùng nhau thắp nén hương tưởng
niệm một vị tướng đáng gọi là người anh lớn của quân đội ta. Sau
biến cố 30 Tháng Tư, 1975, có nhiều cách nh́n khác nhau về ông, kể
cả những thắc mắc, ngộ nhận về những giờ phút cuối cùng ông c̣n chỉ
huy trong cuộc rút quân trong hỗn loạn. Tôi chưa bao giờ được nghe
ông lên tiếng phân trần về những thắc mắc và ngộ nhận đó, trong ḷng
chỉ biết thêm kính trọng. Nhưng dù cách ǵ đi nữa th́ chúng ta cũng
không thể phủ nhận ông là một trong số ít tướng lănh tận tụy đóng
góp nhiều công lao trong việc xây dựng tinh thần quân đội Việt Nam
Cộng Ḥa, không phải chỉ cho những người được ông chỉ huy mà cả
những người trong đời chỉ nghe đến tên ông, phục vụ trong các đơn vị
khác. Suốt đời binh nghiệp, những cấp hiệu và huy chương ông mang
trên người đều được đổi bằng máu và mồ hôi, bằng ḷng yêu nước, với
t́nh yêu quân đội của ông.
Người xưa đă nói, không thể mang thành bại mà luận anh hùng. Nếu kể
đến thành bại th́ những bao hổ tướng trong lịch sử, như Mai Thúc
Loan, Trần Quang Diệu ở nước ta hay Quan Vũ, Nhạc Phi ở bên Trung
Hoa đều đă từng thất bại. Chúng ta bây giờ chỉ biết mọi người mỗi
khi nhắc tới Tướng Ngô Quang Trưởng đều cúi đầu tưởng nhớ với một
niềm tôn kính.
Nay vị tướng được dân chúng và quân đội miền Nam kính trọng quư mến
bậc nhất đă ra người thiên cổ. Ông mất đi, nhưng danh thơm sẽ không
bao giờ xóa nḥa được trong quân sử Việt Nam Cộng Ḥa.
VŨ ÁNH/ Người Việt
Trở
về đầu trang

Lễ phủ và xếp quốc kỳ
Việt Nam Cộng Ḥa trong tang lễ Tướng Ngô Quang Trưởng
Friday,
January 26, 2007
Trong h́nh, các đại
diện quân binh chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa xếp lá quốc kỳ Việt Nam
Cộng Ḥa phủ trên linh cữu cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng nguyên Tư
Lệnh Quân Đoàn I và Vùng I Chiến Thuật trong tang lễ được cử hành long
trọng tại Virginia chiều Thứ Năm 25 Tháng Giêng, 2007. Cựu Chuẩn Tướng
Phan Ḥa Hiệp đă đại diện trao lá cờ xếp cho gia đ́nh tang quyến. (H́nh:
do gia đ́nh cung cấp)
Người Việt
Trở
về đầu trang
http://vietbaoonline.com
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Ra Đi
Việt Báo Thứ Ba, 1/23/2007, 12:02:00 AM
Trung Tướng Ngô Quang
Trưởng, nguyên Tư Lệnh Quân Đoàn I kiêm Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật, Cựu
Sinh Viên Sĩ Quan Khóa 4 Vơ Khoa Thủ Đức, đă tạ thế lúc 03:20AM ngày
22.01.2007 tại Virginia - USA.
Theo tin từ nhà khoa học Nguyễn Viết Kim, chuyển tin từ ông Phạm Xuân
Thái, cho biết ca chi tiết sau:
“Trung Tướng Ngô Quang Trưởng
Sinh: 13-12-1929
Mất: 3:20 am 22-1-2007
Tại Inova Fairfax Hospital
Thành phố Fallchurch, Virginia.
Hiện Thi Hài Trung Tướng Trưởng Đang Được Quàn Tại
Nhà Quàn "Fairfax Memorial Home":
9902 Braddock Rd.
Fairfax, VA 22032
(703) 425-9702
Bắt đầu thăm viếng: Thứ Tư 24-1-2007
Các Hội Đoàn Cựu Quân Nhân QLVNCH thăm viếng và thực hiện lễ nghi
quân cách:
Thứ Năm 25-1-2007.
Lễ di quan và hoả thiêu tại nhà quàn: Thứ Năm 3 pm.
CHƯƠNG TR̀NH
Thứ Ba: KHÔNG
Thứ Tư (24-1-07) từ 11 am tới 9 pm: Gia đ́nh, thân nhân và thân hữu
thăm viếng.
Thứ Năm (25-1-07): từ 10 am tới 2 pm: Nghi lễ thăm viếng, phủ quốc
kỳ của các hội đoàn cựu quân nhân VNCH.
Di quan (thiêu): 3pm cùng ngày.
Được biết trong tuần cuối cùng Trung Tướng Trưởng có vào bệnh viện v́
yếu sức nhưng rồi lại về nhà khá vui vẻ, b́nh thường.
Tối ngày Thứ Bẩy, 20-1-2007, Trung Tướng Trưởng được nhập bệnh viện v́
yếu sức.
Ngày Chủ Nhật, 21-1-07: Trung Tướng Trưởng được cho thở dưỡng khí và rồi
nằm ngủ từ 5 giờ chiều (sau khi tiêm thuốc giảm đau) tới 3:20 sáng Thứ
Hai (22-1-07) th́ ra đi trong yên b́nh.”
* * *
Theo nghiên cứu của nhà quân sử Vương Hồng Anh, tiểu sử Tướng Ngô Quang
Trưởng như sau:
“Tướng Ngô Quang Trưởng xuất thân khóa 4 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức,
ra trường với cấp bậc Thiếu úy vào tháng 6/1954. Từ giữa năm
1954 đến tháng 6/1966, phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù qua các
chức vụ trung đội trưởng, đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng, Tham
mưu trưởng, Tư lệnh phó Sư đoàn Nhảy Dù.
Được thăng cấp thiếu tá vào năm 1964, cấp trung tá (năm 1965)
khi đang giữ chức Tiểu đoàn trưởng; thăng cấp đại tá (năm 1966)
khi giữ chức Tư lệnh phó Sư đoàn Nhảy Dù.
Tháng 6/1966, được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ
binh. Thăng cấp Chuẩn tướng vào tháng 2/1967, thăng cấp Thiếu
tướng tháng 5/1968.
Đến tháng 8/1970, Tướng Trưởng rời Sư đoàn 1 Bộ Binh, về miền
Tây giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 4/Quân khu 4 và được vinh thăng
Trung tướng vào tháng 11/1970.
Đầu tháng 5/1972, trong cuộc chiến mùa hè 1972, Trung tướng được
Tổng thổng Nguyễn Văn Thiệu cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 1/Quân
khu 1. Sau khi Quân đoàn 1 triệt thoái khỏi miền Trung vào cuối
tháng 3/1975, Trung tướng Trưởng được bổ nhiệm giữ chức Phụ tá
Tổng Tham mưu trưởng Quân lực VNCH đến ngày 29/4/1975.”
Trong khi đó, bản tin đài truyền h́nh SBTN ghi chi tiết về một
số chiến công của Tướng Ngô Quang Trưởng như sau:
“...Ông được xem là người hùng Quảng Trị khi đánh bật quân Cộng
sản và tái chiếm Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Ông tốt nghiệp
Khóa 4 Liên trường Vơ khoa Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức năm 1954, ra
trường được bổ nhiệm đại đội trưởng đại đội 1, Tiểu đoàn 5 Nhảy
dù. Năm 1955, ông tham gia cuộc tiễu trừ lực lượng B́nh Xuyên và
được đặc cách thăng cấp trung úy tại mặt trận. Năm 1963, ông
thăng cấp đại úy. Năm 1964, ông thăng cấp thiếu tá và được bổ
nhiệm Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù. Cùng năm 1964, Tiểu
đoàn 5 Nhảy Dù do ông chỉ huy trực thăng vận nhảy vào mật khu Đỗ
Xá, thuộc quận Minh Long, tỉnh Quảng Ngăi, phá vỡ căn cứ địa của
Bộ Tư lệnh Mặt Trận B1 của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tịch
thu 160 súng đủ loại. Năm 1965, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù do ông chỉ
huy trực thăng vận nhảy vào mật khu Hắc Dịch, thuộc vùng núi ông
Trinh, tỉnh Phước Tuy Bà Rịa, căn cứ của Công Trường 7 của Cộng
sản Bắc Việt. Sau hai ngày chạm súng và gây thiệt hại nặng cho
hai Trung Đoàn Q762 và Q762 thuộc Công Trường 7, ông được đặc
cách thăng cấp trung tá tại mặt trận và được tưởng thưởng Đệ Tứ
Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Năm 1965 sau trận Hắc Dịch, ông được
bổ nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Lữ Đoàn Nhảy Dù.
Đến cuối năm 1965, Trung tá Ngô Quang Trưởng được bổ nhiệm Tham
mưu trưởng Sư Đoàn Nhảy Dù. Năm 1966, sau biến cố bạo động miền
Trung, ông được bổ nhiệm tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, dưới quyền
chỉ huy của tư lệnh Quân đoàn I là thiếu tướng Hoàng Xuân Lăm.
Năm 1967, các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 Bộ Binh do ông chỉ huy, gồm
Đại Đội Hắc Báo Trinh Sát, cùng Chi Đoàn 2/7 Thiết Vận Xa M-113,
tăng phái Tiểu Đoàn 9 Nhảy dù do Thiếu tá Nguyễn Thế Nhă chỉ
huy, tấn công và phá vỡ hạ tầng cơ sở và toàn bộ lực lượng du
kích địa phương thuộc mặt trận Lương Cổ, Đồng Xuyên, Mỹ Xá thuộc
quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Sau trận này ông thăng cấp
chuẩn tướng. Năm 1968, các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 Bộ Binh do ông
chỉ huy, tăng phái Chiến Đoàn I Nhảy Dù gồm các Tiểu Đoàn 2, 7
và 9 Nhảy Dù do Trung tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy, đă pḥng thủ
thành công tại Huế trong 26 ngày từ 30 tháng 1 đến 24 tháng 2
năm 1968. Các đơn vị này đẩy lui các đơn vị xung kích của Quân
Giải phóng miền Nam, gồm Đoàn 5 các Tiểu Đoàn K4A, K4B, Tiểu
đoàn 12 đặc công nội thành, Thành Đoàn Huế, Đoàn 6 gồm các Tiểu
Đoàn K41, K6, Tiểu đoàn 13 đặc công nội thành Huế, các Đại đội
đặc công 15, 16, 17, 18, tăng cường một đại đội súng pḥng không
37 ly, hai đại đội du kích quận Hương Trà, Phong Điền, hai đại
đội biệt nội thành Huế, và hai Tiểu Đoàn 416, 418 thuộc Đoàn Cù
Chính Lan tức Đoàn 9. Tướng Trưởng và các đơn vị của ông đă giữ
vững Huế và gây thiệt hại nặng nề cho các đơn vị tấn công Huế.
Sau trận Mậu Thân ông được đặc cách thăng cấp Thiếu tướng và
được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh Quân đoàn IV, Quân khu IV. Năm
1970 ông được thăng cấp trung tướng.
Hai năm sau khi Cộng sản mở cuộc chiến mùa hè đỏ lửa, lực lượng
Quân lực Việt Nam Cộng ḥa tại Quân khu I đă bị nhiều tổn thất.
Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động vào chức vụ Tư lệnh Quân
đoàn I và Quân khu I thay thế tướng Hoàng Xuân Lăm.
Quân khu I được tăng cường toàn bộ lực lượng tổng trừ bị của
Quân lực Việt Nam Cộng ḥa và được sự yểm trợ tầm xa bởi Hạm đội
7 Hoa Kỳ, đẩy lui và tái chiếm Thành cổ Quảng Trị và tất cả các
phần đất bị chiếm phía Nam sông Mỹ Chánh, gây nhiều thiệt hại
cho các đơn vị Cộng sản Bắc Việt và quân Giải phóng miền Nam.
Đại tướng Norman Schwarkopf của Hoa Kỳ trong cuốn hồi kư viết
vào năm 1992 đă ca tụng tướng Trưởng như một anh hùng trong trận
đánh tại thung lũng Ia-Drang.
Sau năm 1975, ông di tản sang Hoa Kỳ và sống cùng với gia đ́nh
tại vùng tiểu bang Virginia ngay bên cạnh thủ đô Hoa Thịnh Đốn.
Ông từ chối tiếp xúc với bất cứ ai, từ chối không trả lời các
cuộc phỏng vấn của báo chí về những ngày cuối cùng, và không
xuất hiện ở những chỗ đông người, nhưng luôn luôn được các cựu
chiến sĩ kính trọng v́ được mệnh danh là một trong 4 vị tướng
thanh liêm trong sạch, qua câu "Nhất Thắng, nh́ Chinh, tam
Thanh, tứ Trưởng"...”
Trở
về đầu trang
Điếu Văn: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng
NGUYỄN DUY HINH . Việt Báo Thứ Sáu, 1/26/2007, 12:02:00 AM
(LTS: Sau đây là bài Điếu Văn Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, do Tướng
Nguyễn Duy Hinh phổ biến.)
Thưa Quí Vị,
Một v́ sao sáng vừa lặn mất trên nền trời sao của VNCH : trung
tướng Ngô Quang Trưởng đă qua đời! Với riêng tôi, Ông là một kỷ
niệm khá đậm nét.
Tôi biết Ông từ xa xa, những ngày Ông là Tư Lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh ở
Huế và tôi đă thật gần Ông từ 1970 khi Ông tới Cần Thơ nhận chức vụ
Tư lệnh Quân đoàn IV / Quân khu 4 và tôi là Tư lệnh phó Lănh thổ rồi
Tư lệnh phó Quân đoàn. Chúng tôi làm việc thiệt nhiều, đi bay thăm
viếng mỗi ngày, để mắt đến ít nhất là năm tới bảy tỉnh hay quận
trong cái quân khu gần hai chục tỉnh ấy.
Những năm 1970 sang 1971, Quân khu 4 được coi như b́nh định gần hoàn
toàn. Các đơn vị lớn của địch chạy sang Cam-Bốt. Các căn cứ lớn
của đối phương và các khu du kích địa phương nhỏ đă bị triệt phá,
san bằng. Quân khu 4 có bộ mặt hiền hoà tốt đẹp với kinh tế phát
triển đến độ thời ấy, người ta dă nghĩ như chiến tranh sẽ tan biến
đi. Đó là trạng thái suy sụp của chiến tranh du kích CS sau Tổng
công kích, Tổng khởi nghĩa 1968.
Trung tướng Trưởng là một quân nhân thuần tuư, một tướng lănh gương
mẫu. Ông tuân phục kỷ luật, làm việc cặm cụi, tận tuỵ, lănh đạo
bằng khuôn mẫu hành xử của ḿnh. Có một đặc sắc trong đường nét
lănh đạo của Ông: nói thật ít và cặm cụi với công việc.
Ông thường hay vắng mặt về đêm. Đêm như thế, khi trời vừa tối, Ông
cùng Cố vấn trưởng đáp máy bay xuống một đồn Địa phương quân hay
Nghĩa quân xa xôi nào đó. Tất nhiên tới đồn không phải là để ngủ mà
là ḍm nom các trạm gác, các lỗ châu mai, hỏi han các chiến sĩ trong
đồn, xem xét t́nh h́nh chung. Rồi sau vài lần đi đêm như thế, tiếng
đồn loan ra, trưởng đồn các thôn xóm đều kháo nhau : có thể ông
Tướng Tư lệnh Quân đoàn tới trong đêm và hăy chuẩn bị mà lo trước đi
thôi.
Trung tướng Trưởng ít nói, quá hà tiện lời nói, có thể gọi là lầm
ĺ. Nhưng Ông để ư vào chi tiết. Tới thăm một đơn vị th́ hay nh́n
kỹ, quan sát một vài xó xỉnh nào dó, thí dụ như một góc nhỏ rác rến
trong khu nhà bếp một đồn binh. Ông không nói ǵ nhưng ngay sau đó,
khi vị Tư lệnh QĐ đi khỏi th́ ta có thể chắc chắn rằng các xó rác đó
sẽ được dọn dẹp và giữ ǵn sạch sẽ về sau.
Trong các buổi họp, sau một thuyết tŕnh của một đơn vị trưởng nào
đó, người ta thấy Trung tướng Trưởng gật gù, mắt chớp chớp, nói một
vài lời ngắn ngủi, đôi khi không hẳn là rơ rệt. Đây là một khía
cạnh lănh đạo khác của Tướng Trưởng. Các đơn vị trưởng, các sĩ quan
tham mưu nhiều khi không hoàn toàn lănh hội được chỉ thị của vị tư
lệnh. Buổi họp kết thúc, công việc phải làm không ngưng nghỉ và tất
cả vận dụng đầu óc, t́m giải pháp tốt đẹp nhất để hoàn thành nhiệm
vụ. Sự kiện này đưa đến cộng tác của hàng chục, hàng trăm cái đầu
các cấp, thách đố và gây nên sự hợp tác, đóng góp tận lực của tất
cả. Ở đây tôi thấy sự hữu hiệu sắc nét của một khía cạnh lănh đạo
Ngô Quang Trưởng.
Rồi đến “mùa Hè Đỏ Lửa 1972”, Quảng Trị mất, dân Huế di tản, chợ
Đông Ba cháy ! Buổi trưa ngày 3-5-1972, trở lại bộ Tư Lệnh sau khi
gặp Tổng thống Thiệu tại Saigon, Tướng Trưởng mời tôi tới văn
pḥng; Ông muốn tôi cùng ra Huế. Vài giờ đồng hồ sau đó, chúng tôi
giă biệt Cần Thơ. Rời thủ phủ của Quân khu 4 an b́nh, tôi thấy
chóng mặt khi đáp xuống Phú Bài. Sát cạnh phi đạo là hai khu tập
trung thương binh Dù và Thuỷ quân lục chiến nằm ngồi nghiêng ngả,
máu me, băng bó bê bết chờ di tản. Dân chúng già trẻ chen chúc nheo
nhóc trong phi cảng chờ máy bay! Tới Huế th́ thấy đó là một thành
phố vắng lạnh, người qua lại hốt hoảng, vội vàng. Chợ Đông Ba c̣n
nghi ngút khói.
Đặt chân tới Mang Cá, nhận bàn giao quyền Tư Lệnh Quân đoàn I / Quân
Khu 1 ngay chiều đó, Trung tướng Trưởng bắt đầu bay đi thăm các đơn
vị tiền tuyến. Tôi được chỉ định sắp xếp lại bộ Tham Mưu Hành Quân
và chuẩn bị các kế hoạch mới.
Sáng hôm sau, dân Huế đồn nhau “Tướng Trưởng đă trở lại”, tướng
Trưởng, người tử thủ Huế năm 1968 nay đă trở lại, mọi sự sẽ ổn
định. Huyền thoại Ngô Quang Trưởng như một chiếc đũa thần mang đến
phép lạ. Có lẽ tôi khỏi cần phải kể rằng ít tháng sau đó, với sự
tận t́nh yểm trợ của Đồng Minh, Quân Đoàn I tăng cường hai Sư đoàn
Nhảy Dù và Thuỷ Quân Lục Chiến đă tái chiếm lại hầu hết tỉnh Quảng
Trị.
Tướng bốn sao Hoa Kỳ, H. Norman Schwarzkoff, trong cuốn sách ông
viết về trận đánh “Băo Sa Mạc” mang tên “It doesn’t take a hero” đă
nức nở ca ngợi tài điều binh và kinh nghiệm chiến trường của Trung
tướng Trưởng khi Ông hành quân cấp tiểu đoàn và lữ đoàn.
Năm 1975, một thử thách ở cấp bậc cao hơn đang chờ đợi ! Ngày
10-3-1975, Ban Mê Thuột bị tấn công để rồi thất thủ ngày hôm sau.
Không đầy một tuần tiếp theo, Pleiku và Kontum bị rút bỏ. Các lực
lượng Quân Đoàn II và dân chúng nheo nhóc di tản chiến thuật. Quân
Khu 2 đối diện nguy cơ bị xẻ làm hai.
Trong khi mũi tấn công chính của Bắc Việt đang thi triển tại Vùng 2
th́ các lực lượng của CS tại Vùng 1 ào lên khai thác t́nh h́nh.
Ngày 24-3-75, Tam Kỳ rồi Chu Lai, Quảng Ngăi di tản, Sư đoàn 2 Bộ
Binh bỏ chạy ra cù lao Ré. Ngày 25-3 Mặt trận Huế vỡ. Thế trận
đang chuyển thành một cuộc bao vây và tấn công tương lai vào Đà
Nẵng, nơi đặt bản doanh của Trung tướng Trưởng. Các tuyến pḥng thủ
quanh Đà Nẵng co lại để sửa soạn pḥng ngự. Trong không khí hoảng
loạn của dân Vùng 1 lánh nạn cùng với tin địch khởi sự tấn công vào
đêm 29-3-75 hoà với áp lực cân năo mọi phía, Tướng Trưởng triệu tập
một cuộc họp các Tư lệnh đại đơn vị tại bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1
vào 9 giờ 30 đêm 29-3-75 để rồi quyết định rút khỏi Đà Nẵng ngay đêm
đó. Quân khu giới tuyến thất thủ!
Trong suốt thời gian dài trên ba mươi năm định cư tại Virginia, tôi
được may mắn ở gần và gặp gỡ Trung tướng Trưởng khá nhiều. Tôi đă
mời mọc vị cựu Tư Lệnh của tôi tham gia một số công tác hứa hẹn về
hướng đấu tranh dân chủ hoá cho VN, Trung tướng Trưởng bao giờ cũng
từ chối. Ông sống như âm thầm với một nỗi u sầu khép kín. Thời
gian sau này, Ông đă nói nhiều hơn một chút nhưng cũng chẳng bao giờ
thổ lộ bầu tâm sự. Với vài ba bài báo viết về Ông trong mấy ngày
cuối của VNCH, Ông bảo là có điều đúng, có nhiều điều sai vậy thôi!
Một tướng lănh người đời đánh giá là tài ba sau cùng đă theo nạn
nước mà di tản để gậm nhấm nỗi buồn nơi xứ người. Có một lần tôi
hỏi Ông: “Nếu như Trung tướng có thể xoá ván bài, làm lại ở Đà Nẵng
th́ Trung tướng sẽ làm như thế nào?” Và cũng có lần Ông đă trao đổi
và đặt câu hỏi với một sĩ quan tham mưu cao cấp cũ của Quân đoàn như
sau : “Nếu khi ấy ta giữ Đà Nẵng th́ có thể làm được không?” Các
câu trao đổi này cho thấy Ông vẫn mang nặng một niềm đau gậm nhấm
tâm can!
Ngày nay, Trung tướng Ngô Quang Trưởng đă ra đi. Lũ bạn già chúng
tôi đây xin hẹn sẽ gặp lại chốn cửu tuyền kia, sớm hay muộn nào ai
biết ! Dầu sao, sinh ly tử biệt là đau, là buồn ! Vậy xin tạm biệt
và cầu chúc Trung Tướng sẽ an b́nh nơi Tiên cảnh. Chúng tôi xin
chân thành chia buồn cùng bà quả phụ Ngô Quang Trưởng và cùng toàn
Tang Quyến trong giờ phút đau đớn này.
Chúng tôi cùng xin bái biệt Trung Tướng Ngô Quang Trưởng!
Thương thay!
Virginia, 25-1-2007
Trở
về đầu trang
Tang Lễ Của Cố Trung Tướng Ngô Quang
Trưởng
TUYẾT MAI . Việt Báo Thứ Sáu, 1/26/2007, 12:02:00 AM
Cố
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Đoàn I kiêm Tư Lệnh
Vùng I Chiến Thuật, pháp danh Nguyên Giác, sinh quán tại Giao Thanh,
Bến Tre, Việt Nam đă vĩnh viễn từ giă gia đ́nh, đồng bào và chiến
hữu vào lúc 3:20 Am ngày 22 háng 1, 2007 tại Falls Church,VA. Hưởng
thọ 78 tuổi.
Tang lễ được cử hành vô cùng trọng thể tại Nhà quàn Fairfax Memorial
Funeral, Fairfax, VA dưới sự chủ lễ của Ḥa Thượng Thích Trí Tuệ,
Trung Tâm Phật Giáo Vạn Hạnh Virginia và Hoà Thượng Thích Tâm Thọ,
Chủ tŕ Chùa Pháp Hoa, Lancaster, PA, cùng ban hộ niệm Pháp Hoa và
Pháp Vương, VA.
Trong ngày 24 Tháng 1 có rất đông đồng hương đến thăm viếng, chia
buồn cùng tang quyến từ 10 giờ sáng đến 9 giờ tối. Ngày 25/1 từ 10
giờ sáng có rất nhiều cựu quân nhân và đại diện các quân binh chủng
trong QLVNCH đến thăm và dự lễ phủ cờ.
Theo lời người trong gia đ́nh, Cố Trung Tướng Trưởng có ước muốn
tang lễ cử hành đơn giản, nhưng đồng hương đă mến thương đến thăm
viếng quá đông, căn pḥng ở nhà quàn tràn ngập hoa tươi, cờ Trung
Tướng và quốc quân kỳ, ở hai đầu quan tài luôn có hai quân nhân mặc
quân phục đứng nghiêm chào.
Cựu Trung Tá TQLC Nguyễn Văn Phán điều hợp chương tŕnh. Niên Trưởng
Đào Mộng Xuân đă đọc tiểu sử của Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng
như sau, Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng sinh ngày 13 Tháng Mười
Hai, 1929; mất ngày 22 Tháng Giêng, 2007. Ông phục vụ trong QLVNCH
từ 1954-1975, được xem là người hùng Quảng Trị khi đánh bật Cộng
Quân, tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, năm 1972.
Trung Tướng Trưởng tốt nghiệp khóa 4 Liên Trường Vơ Khoa Sĩ Quan Trừ
Bị Thủ Đức. Năm 1954, ông ra trường được bổ nhiệm Đại Đội Trưởng
Đại Đội 1, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù. Năm 1955 ông tham gia cuộc tiễu trừ
Lực Lượng B́nh Xuyên và được đặc cách thăng cấp Trung Úy tại mặt
trận. Năm 1965 sau trận Hắc Dịch ông được bổ nhiệm chức vụ Tham Mưu
Trưởng Lữ Đoàn Nhảy Dù. Năm 1966 sau biến cố bạo động Miền Trung ông
được bổ nhiệm Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh.
Năm 1970 Ông được thăng cấp Trung Tướng. Năm 1972 Cộng quân mở chiến
dịch Trị Thiên, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động vào
chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I, thay thế Tướng Hoàng
Xuân Lăm.
Năm 1975 Cộng Quân mở chiến dịch Huế- Đà nẵng, với chức vụ Tư Lệnh
Quân Đoàn I và Quân Khu I ông được lệnh tử thủ Huế, nhưng ít lâu sau
lại nhận đựơc lệnh bỏ Huế về Đà Nẳng. Hai thành phố này rơi vào tay
CS dẫn theo sự sụp đổ hoàn toàn của những tỉnh và thành phố suốt dọc
miền Trung. Trung Tướng Trưởng vào Saigon và sau đó di tản cùng gia
đ́nh sang Hoa Kỳ, định cư tại VA.
Bắt đầu từ năm 1979 theo lời mời của Trung Tâm Quân Sử Quân Lực HK
ông ghi lại kinh nghiệm chiến đấu qua ba quyển sách hiện c̣n lưu trữ
tại trung tâm trên. Đó là “The Easter Offensive of 1972 (1983) ,
“The Territorial Forces (1984) và “RVNAF and US Operation
Cooperational Coordinatin (1984).
Trong thời gian định cư tại HK ông ít khi xuất hiện trước công
chúng. Ông là một trong số ít tướng lănh được đánh giá là thanh liêm
trong sạch và tài ba trong QLVNCH.
Sau đó Cựu Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh được mời lên đọc điếu văn.
Cựu Tướng Hinh nói, một v́ sao vừa lặn mất trên nền trời sao của
VNCH, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đă qua đời. Với riêng tôi ông là
một kỷ niệm khá đậm nét, tôi biết ông từ ngày là Tư Lệnh Sư Đoàn I
Bộ Binh ở Huế và tôi đă thật gần ông từ 1970 khi ông nhận chức Tư
Lệnh Quân Đoàn IV. Cựu Tướng Hinh nhắc lại ông và Trung Tướng Trưởng
làm việc với nhau thật nhiều, đi bay thăm viếng mỗi ngày các quân
khu vùng IV.
Trong năm 1970-1971 Quân Khu bốn coi như b́nh định hoàn toàn, các
đơn vị lớn của địch nhảy sang Cao Miên, các khu du kích nhỏ đă bị
triệt phá, san bằng. Quân khu IV có bộ mặt hiền ḥa, tốt đẹp, kinh
tế phát triển tột độ thời ấy. Người ta nghĩ chiến tranh sẽ tan biến
mất. Đó là trạng thái suy sụp của chiến tranh du kích CS sau khi
Tổng công kích, Tổng khơỉ nghĩa 1968.
Thiếu Tướng Hinh ca ngợi Trung Tướng Trưởng là một quân nhân thuần
túy, một tướng lănh gương mẫu. Ông tuân phục kỹ luật, làm việc cặm
cụi, tận tụy, lănh đạo bằng khuôn mẫu hành xử của ḿnh. Có một đặc
sắc trong đường nét lănh đạo của ông là nói thật ít và cặm cụi với
công việc.
Ông thường hay vắng mặt về đêm. Khi trời tối Ông cùng Cố Vấn trưởng
đáp máy bay xuống một đồn Địa Phương Quân hay Nghĩa quân xa xôi nào
đó để hỏi han các chiến sĩ, xem xét t́nh h́nh chung. Trung Tướng ít
nói có thể nói là lầm ĺ nhưng ông để ư vào chi tiết.
Rồi đến “Mùa Hè Đỏ Lửa 1972”, Quảng Trị mất, dân Huế di tản, chợ
Đông Ba cháy. Sau khi gặp Tổng Thống Thiệu, Trung Tướng Trưởng mời
Thiếu Tướng Hinh ra Huế, tới Huế th́ thấy đó là một thành phố vắng
lạnh, người qua lại hốt hoảng, vội vàng. Trung Tướng Trưởng đặt chân
đến Mang Cá, nhận bàn giao quyền Tư lệnh Quân Đoàn I, Quân Khu I
ngay chiều đó. Trung tướng Trưởng bắt đầu bay đi thăm các đơn vị
tiền tuyến. Sáng hôm sau dân Huế đồn nhau “Tướng Trưởng đă trở lại”
, Tướng Trưởng, người tử thủ Huế năm 1968 nay đă trở lại, mọi sự sẽ
ổn định. Huyền thoại Ngô Quang Trưởng như một chiếc đũa thần mang
đến phép lạ. Với sự tận t́nh yểm trợ của Đồng Minh, Quân Đoàn I tăng
cường hai Sư Đoàn Dù và TQLC đă tái chiếm lại hầu hết tỉnh Quảng
Trị.
Tướng Norman Schwarzkopf trong cuốn “Tt Doesn’t Take A Hero” đă nức
nở ca ngợi tài điều binh và kinh nghiệm chiến trường của Trung Tướng
Trưởng, khi ông hành quân cấp sư đoàn, tiểu đoàn và lữ đoàn.
Năm 1975 trong không khí hỗn loạn của Vùng I cùng với tin địch tấn
công vào đêm 29/3/75 Tướng Trưởng triệu tập một cuộc họp các Tư Lệnh
đại đơn vị tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I rồi quyết định rút khỏi Đà
Nẵng ngay đêm đó. Quân Khu giới tuyến thất thủ.
Thiếu Tướng Hinh kết luận, Trung Tướng Trưởng, một tướng lănh được
người đời đánh giá là tài ba sau cùng đă theo nạn nước mà di tản để
gậm nhấm nỗi buồn nơi xứ người.
Ngày nay Trung Tướng Trưởng Ngô Quang Trưởng đă ra đi, dẫu sao
sinh ly tử biệt là đau, là buồn! Vậy xin tạm biệt và cầu chúc Trung
Tướng sẽ an b́nh nơi Tiên cảnh. Chúng tôi xin bái biệt Trung Tướng
Ngô Quang Trưởng.
Trong dịp này Đại Tướng Cao Văn Viên có gởi thư đến chia buồn cùng
Bà quả phụ Ngô Quang Trưởng. Đại Tướng Viên nói v́ sức khỏe không
thể đến để chia buồn . Nay th́ Trung Tưóng đă ra đi vĩnh viễn rồi.
Nhưng Trung Tướng để lại trong ḷng mọi người một sự kính trọng và
quư mến sâu xa.
Trong suốt cuộc đời binh nghiệp Trung Tướng Trưởng đă tỏ ra là một
sĩ quan, một Tướng tài ba và giàu mưu lược. Trung Tướng Trưởng là sự
hănh diện của QLVNCH.
Đại Tướng Creighton Abrams, Nguyên Tư Lệnh Lục Quân HK và cũng là Tư
Lệnh BTL/Viện Trợ Quân Sự HK tại VN đă nói rằng Trung Tướng Trưởng
là một trong những Tư Lệnh Chiến Trường ưu tú nhất của VN.
Riêng Đại Tướng Norman Schowarzkopf, một vị tướng lừng danh của HK
đă chiến thắng trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh cũng đă viết trong
hồi kư của ông, coi Trung Tướng Trưởng là một bậc Thầy và nói rằng
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng là một thiên tài quân sự.
Cuối cùng Đại Tướng Cao Văn Viên viết: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng,
tôi rất hănh diện là cấp chỉ huy của Trung Tướng.
Trong dịp này Giáo Sư Toàn Phong, Nguyễn Xuân Vinh, Chủ Tịch Hội
Đồng Đại Diện của Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại có gởi thư
phân ưu. Ông Đoàn Hữu Định đă đọc thư “Trung Tướng Trưởng, người
hùng Quảng Trị, một tướng lănh tài ba đă mệnh chung. Trung Tướng Ngô
Quang Trưởng ra đi là một cái tang lớn cho hàng ngũ cựu quân
nhân QLVNCH, với ḷng thành kính và ngưỡng phục của chúng tôi, thay
mặt toàn thể chiến sĩ VNCH, thành thật phân ưu và cầu nguyên hương
linh Trung Tuớng sớm về cơi vĩnh hằng.
Tới đây th́ tám quân nhân trong quân phục (hai Dù, hai Thủy Quân Lục
Chiến, hai Bộ Binh, một Không Quân, Một Hải Quân) đă trang trọng
làm lễ phủ cờ lên quan tài của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng.
Niên Trưởng Lâm Duy Tiên thay mặt cho chiến hữu Chủ tịch Liên Hội
CCSQG/VNCH và các hội đoàn liên hệ vùng HTĐ và các chiến hữu trong
vùng đọc lời phân ưu, kính cẩn nghiêng ḿnh truớc linh cữu của Cố
Trung Tướng Trưởng và xin chân thành phân ưu cùng Bà quả phụ Cố
Trung Tướng Trưởng, tang quyến và nguyện cầu cho hương linh Trung
Tướng sớm an nghỉ nơi cơi vĩnh hằng
Đến 2:30 Ḥa Thượng Thích Trí Tuệ và ban hộ niệm Pháp Hoa, Pháp
Vương cầu nguyện theo nghi lễ Phật giáo.
Theo sau là lễ di quan, đi đầu là toán quốc quân kỳ, quan tài
được dời đi, hai bên có tám quân nhân đi theo. Khi quan tài được
dời ra khỏi pḥng để có chỗ rộng răi hơn th́ nghi lễ xếp cờ bắt
đầu. Tám cựu quân nhân cùng nâng lá cờ lên rối xếp lại làm ba, rồi
xếp lại h́nh tam giác nhỏ theo lễ nghi quân cách xếp cờ. Lá cờ được
Cựu Thiếu Tướng Phan Ḥa Hiệp trang trọng trao lại cho Bà Quả Phụ
Ngô Quang Trưởng.
Sau đó quan tài được tiễn đưa tới pḥng hỏa táng, dọc theo đường,
hai bên có nhiều quân nhân các quân binh chủng trong quân phục đứng
dàn chào. Trong niềm thương tiếc sâu xa, trong một không khí cảm
động vô cùng, mọi người cùng đọc kinh cầu nguyện Đức Phật A Di
Đà tiếp dẫn linh hồn cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng về cơi Phật.
Chương tŕnh tang lễ của Cố TrungTướng Ngô Quang Trương được chấm
dứt vào lúc 3 giờ chiều .
Chớp lóe xuyên Trời quân sĩ ơi!
Hùm thiêng vĩnh biệt thế gian rồi
TRỊ THIÊN, B̀NH GIĂ lừng danh tướng
Công trận c̣n lưu , tiếng để đời.
(Thơ Bảo Túc)
Trở
về đầu trang
Báo Mỹ Viết Về Tướng Ngô Quang Trưởng
Việt Báo Thứ
Bảy, 1/27/2007, 12:02:00 AM
Nhà
Chiến Lược Lỗi Lạc, Tài Ba Được Người Mỹ Kính Trọng
Tướng Ngô Quang Trưởng, người được tôn trọng là vị tướng liêm khiết
và có tài điều binh khiển tướng giỏi nhất trong quân đội Việt Nam
Cộng Ḥa vào thời chiến tranh Việt Nam, vừa từ trần v́ căn bệnh ung
thư tại bệnh viện Inova Fairfax. Ông cư ngụ tại thành phố
Springfield, VA.
Tướng Creighton Abrams, người đă từng chỉ huy quân đội Hoa Kỳ trong
các cuộc hành quân từ 1968 đến 1972, thường kể cho binh sĩ cấp dưới
là Tướng Trưởng có thừa khả năng điều khiển cả một sư đoàn quân binh
Hoa Kỳ. Tướng Norman Schwarzkopf, người đă từng chiến đấu tạI Việt
Nam, đă ghi trong tập hồi kư của ông tựa đề “It Doesn’t Take a Hero”
rằng Tướng Trưởng là “một cấp chỉ huy chiến lược lỗi lạc nhất mà tôi
được hân hạnh biết tới.”
“Chỉ cần h́nh dung địa thế và dựa trên kinh nghiệm 15 năm đấu tranh
chống Cộng, Tướng Trưởng có một năng lực siêu kỳ có thể tiên đoán
được nước cờ kế tiếp của kẻ địch,” Tướng Schwarzkopf ghi nhận.
Trong biến cố Tết Mậu Thân, Tướng Trưởng đă can trường bảo vệ cố đô
Huế, chống chọi cuộc tấn công của Cộng Sản Miền Bắc. Có thể nói đó
là một trong những cuộc chiến đẫm máu và dài nhất trong chiến tranh
Việt Nam. Mùa Hè đỏ lửa vào tháng 5 năm 1972, ông đă trở lại Huế để
chỉ huy quân đoàn vùng này. Chuyến trở lại này đă làm êm dịu mối
hoảng sợ của dân chúng và cho ông cơ hội triệu tập nhóm quân binh đă
di tản đến Quảng Trị và tái lập quân ngũ.
3 năm sau, khi Cộng quân xâm lấn miền Nam, Tướng Trưởng được điều
nhiệm di tản quân binh trong các vùng chiến thuật gần Đà nẵng.
Bộ Encyclopedia xuất bản năm 1996 ghi chép rằng, “tuy nhiệm vụ nặng
nề này thất bại, chúng ta cũng không nên đổ lỗi cho Tướng Trưởng bởi
v́ lúc đó hoàn cảnh rất khó khăn.”
Dưới lằn mưa đạn và trọng pháo xối xả của Cộng quân, quân đội của
ông phải tan ră và bỏ hàng ngũ. Tướng Trưởng đă phải bơi ra chiến
hạm đậu nơi bờ biển và tái lập bộ chỉ huy vừa lúc Đà Nẵng rơi vào
tay Cộng Sản. Tướng Trưởng bay vào Sài g̣n và phải vào ngay bệnh
viện v́ bị căng thẳng tinh thần, theo báo chí cho biết. Một sĩ quan
Hoa Kỳ từng làm việc thân cận với Tướng Trưởng cuối cùng t́m được
ông và dàn xếp đưa ông và gia đ́nh lên một chiến hạm Mỹ vừa đúng lúc
Sài G̣n rơi vào tay Cộng Sản.
Gia đ́nh Tướng Trưởng lại bị ly tán trong cuộc di tản này. Vợ và
con trai lớn của ông được đưa sang trại tị nạn Fort Chaffee, tiểu
bang Arkansas; con gái và người con trai kế được nhân viên bộ Ngọai
Giao Hoa Kỳ đưa sang Seattle, tiểu bang Washington; và cậu con trai
út, lúc đó chỉ mới 4 tuổi và không nói được tiếng Anh, được đưa vào
trại tị nạn Camp Pendleton, California, tạm trú trong vài tuần cho
đến khi danh tánh của cậu được xác định.
Năm đó, Tướng Trưởng dọn về Falls Church và biên sọan tài liệu về
quân sử gồm những sách “Easter Offensive of 1972” xuất bản năm 1979,
“RVNAF and US Operational Cooperation and Coordination” xuất bản năm
1980 và “Territorial Forces” năm 1981. Năm 1983, ông dọn về
Springfield. Cũng trong năm này, ông trở thành công dân Hoa Kỳ và
giữ chức vụ nhân viên phân tích điện toán cho hăng Association of
American Railroads cho đến ngày ông về hưu năm 1994.
Tướng Ngô Quang Trưởng sanh ngày 19 tháng 12 năm 1929, trong một gia
đ́nh thượng lưu tại vùng châu thổ Mê Kông, đồng bằng sông Cửu Long,
thuộc tỉnh Kiến Ḥa. Theo truyền thống phong tục Việt Nam, ông họ
Ngô tên Trưởng. Người Mỹ cũng quen gọi ông theo quân tước và tên,
nên danh xưng “General Truong” đă trở thành quen thuộc đối với các
chiến sĩ Mỹ chiến đấu tại Việt Nam.
Tướng Trưởng tốt nghiệp tại Đại Học Mỹ Tho và tiếp tục theo học tại
quân trường (Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức). Gia nhập quân đội năm 1954,
ông đă trải qua hơn 12 năm trong lữ đ̣an đặc biệt chuyên về tác
chiến không sự, và năm 1966, ông được thăng chức Tư Lệnh Quân Đ̣an 1
Bộ Binh tại Huế. Năm 1971, ông được chuyển sang điều hành quân sự
cho ṭan thể vùng đồng bằng Mê Kông.
Tướng Schwarzkopf ghi lại, “Trông ông ta không giống như người tôi
mường tưởng là một thiên tài quân sự: cao chỉ khoảng 1m7, tuổi vừa
hơn tứ tuần, gầy dong dỏng, với vai cong, lưng c̣ng và cái đầu trông
có vẻ to hơn người. Gương mặt ông ta lúc nào cũng đăm chiêu, khó
khăn, không đẹp trai cho lắm, và lúc nào cũng có điếu thuốc lưng
lửng nơi góc miệng. Thế nhưng, cả binh sĩ lẫn sĩ quan, ai ai cũng
kính nể ông—và những giới chỉ huy Cộng Sản nào biết đến danh ông đều
phải nể sợ.”
Không như những cấp chỉ huy khác mỗi lần thăng chức th́ cũng tăng
thêm tài lực, Tướng Trưởng sống một cuộc sống đạm bạc, khắc khổ.
Trung Tá về hưu John H. Cushman, người đă cùng chiến đấu và trở
thành bạn thân của ông cho biết, ngay cả bộ complet Tướng Trưởng
cũng không có và vợ của ông từng nuôi heo sau nhà trong trại sĩ quan
nơi họ trú ngụ.
2 đêm trước ngày tổng tấn công của Cộng Sản trong Tết Mậu Thân, ông
Cushman cho biết, Tướng Trưởng có linh tính chuyện không lành sẽ xảy
ra và báo động cho quân binh biết. Đêm thứ nhất trải qua b́nh yên
nên ông giải tán nhóm cố vấn nhưng vẫn chuẩn bị quân đội. Đêm ấy,
quân Cộng tấn công và cuộc chiến kéo dài suốt mấy tuần lễ.
“Ông vẫn tồn tại trong khi bị quân địch bao vây,” ông Cushman kể
tiếp. “Dù chúng đă chiếm hết thành tŕ, chúng không thể chiếm được
đồn chỉ huy của ông…Ông có óc sáng tạo và luôn luôn tận dụng t́m
cách tạo điều kiện tốt cho cuộc sống của binh sĩ và gia đ́nh ông.”
Tướng Trưởng ra đi để lại người vợ hiền, bà Nguyễn Kim Dung cư ngụ
tại Springfield; các con trai Nguyễn Xuân Thanh đang sống tại
Slidell, LA, Ngô Quang Trí, Clifton, và Ngô Trị Thiên, Las Vegas;
các con gái gồm Hùynh Mai Trinh, Fairfax City và Ngô Trâm-Tiara,
Rockville. Hậu phúc của Ông cũng để lại 12 cháu và 2 chắt.
Bài tường thuật của Patricia
Sullivan trên Washington Post, Thứ Năm 25-1-2007, Lê Thùy Lan chuyển ngữ
Trở
về đầu trang
http://www.calitoday.com/news
Cựu Trung tướng Ngô Quang Trưởng qua đời tại
Virginia: Một ngôi sao trên bầu trời vừa chợt tắt và để lại trong ḷng
đồng bào và chiến hữu bao niềm thương tiếc.
Jan 23, 2007 Calitoday
Nhiều
người đă bàng hoàng trước tin cựu Trung tướng Ngô Quang Trưởng, vị tướng
hào hùng của quân lực Việt Nam Cộng Ḥa đă qua đời tại Virginia vào ngày
hôm qua.
Sau khi website của nhật báo Cali Today là calitoday.com loan tin này
trong bản tin sáng sớm thứ hai và ngay sau đó bản tin chiều thứ hai, th́
người Việt khắp bốn vùng chiến thuật đă bày tỏ ḷng kính mến và thương
tiếc một người anh hùng của đất Việt vừa giả từ chiến hữu, đồng bào để
ra đi về cơi Phật. Số người phân ưu và thương tiếc ngày càng nhiều. Tin
tức về sự ra đi của cựu Trung tướng Ngô Quang Trưởng làm nhiều người
bàng hoàng và thương tiếc. Chị Kiều Mỹ Duyên gọi điện thoại lên ṭa soạn
nhắn: “Các em đừng archived sớm tin này nhé. Hăy giữ ở trang đầu để các
chiến hữu khắp 4 vùng chiến thuật chia buồn.” Chúng tôi đă hứa với chị
Kiều Mỹ Duyên là sẽ giữ bản tin này trên trang một cho đến khi nhục thể
của cố Trung tướng Ngô Quang Trưởng được hỏa thiêu xong…
Một ngôi sao trên bầu trời vừa chợt tắt và để lại trong ḷng đồng bào và
chiến hữu bao niềm thương tiếc. Nhiều độc giả đă coi sự ra đi của Trung
tướng Ngô Quang Trưởng như là một cái tang riêng cho gia đ́nh của ḿnh.
Nhiều tuổi trẻ lớn lên sau chiến tranh, nhưng cũng đă nghiêng ḿnh
thương tiếc v́ theo những câu chuyện kể của cha mẹ các cháu, ông ta là
một anh hùng đất Việt trong thời đại ngày nay.
Non sông ưu tú và gấm vóc của đất Việt đă sản sinh một người hùng kiệt
xuất từ tài năng đến đạo đức, khiến cho các tướng lănh của Hoa Kỳ cũng
một ḷng ngưỡng mộ tài năng.
Chinh chiến có thắng có bại. Có những chiến thắng nhơ nhuốc và có những
chiến bại hào hùng, và tướng Ngô Quang Trưởng tuy không giữ nổi miền Nam
nhưng ông đă vươn thẳng người đứng dậy từ cuộc chiến trở thành một ngôi
sao Bắc Đẩu về tài năng và nhân cách và tên tuổi của ông c̣n trong sự
tôn kính của người đời.
Từ những vị tướng đồng môn cho tới những sĩ quan, hạ sĩ quan dưới quyền,
không ai mà không thương tiếc vị tướng oai dũng Tư lệnh quân đoàn 1 quân
khu 1, người từng oai hùng đánh bật quân đội Cộng sản Việt Nam tại Huế
và Quảng Trị, và dựng lại lá cờ vàng trên kỳ đài mà h́nh ảnh này vẫn c̣n
là một biểu tượng chiến thắng hào hùng của cả quân đội quân lực Việt Nam
Cộng Ḥa trước đây.
Tướng Ngô Quang Trưởng sinh ngày 13 tháng 12 năm 1929, tốt nghiệp khóa 4
sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, nguyên Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn
Nhảy Dù, đă qua đời vào lúc 3 giờ 20 phút sáng ngày hôm qua thứ hai tại
bệnh viện Inova Fairfax tại thành phố Falls Church tiểu bang Virginia,
hưởng thọ 76 tuổi.
Nguồn tin từ gia đ́nh cho biết trong tuần cuối cùng, Trung Tướng Trưởng
có vào bệnh viện v́ yếu sức nhưng rồi lại về nhà khá vui vẻ b́nh thường.
Tối ngày thứ bảy, tướng Trưởng được nhập bệnh viện v́ yếu sức. Ngày Chủ
Nhật ông được cho thở dưỡng khí và rồi nằm ngủ từ 5 giờ chiều sau khi
chích thuốc giảm đau, tới sáng thứ hai th́ ông ra đi trong yên b́nh.
Nguồn tin từ những người thân cận cho biết tướng Trưởng là một Phật tử
thuần thành, với pháp danh là Nguyên Chánh, linh cữu được Quàn tại Nhà
Quàn Fairfax Memorial Home, địa chỉ 9909 Braddeck Road, Fairfax,
Virginia.
Chương tŕnh tang lễ được thông báo lễ phát tang vào lúc 10 giờ sáng
ngày thứ tư, sau đó là để cho mọi người thăm viếng tới 9 giờ tối. Đến
ngày thứ năm, vào lúc 10 giờ sáng sẽ diễn ra những lễ nghi quân cách,
đọc tiểu sử, lời phân ưu và lễ phủ quốc kỳ của các Hội Đoàn cựu quân
nhân quân lực Việt Nam Cộng Ḥa, cho đến 12 giờ rưỡi sẽ là nghi thức di
quan và 3 giờ chiều sẽ là lễ hỏa thiêu theo lời nguyện của người đă
khuất. Trong niềm thương tiếc dành cho một vị tướng oai hùng, xin chia
buồn cùng tang quyến tướng Ngô Quang Trưởng, và với binh chủng Nhảy Dù,
Sư đoàn 1 Bộ Binh cùng các Sư đoàn mà vị tướng này đă từng chỉ huy, cùng
nghiêng ḿnh kính tưởng nhớ đến một người đă dành hết cả cuộc đời của
ḿnh để hy sinh cho chính nghĩa Tự Do.
Nhật báo Cali Today sẽ tiếp tục cập nhật tin tức về tang lễ của cố Trung
tướng Ngô Quang Trưởng trong những bản tin tới.
Su*. Song va su
chet den voi tungcon nguoi,co nga`y co' gio`, nhung su ra di cua
tuong Ngo Quang Truong , cung lam cho ca gia dinh chau' cung voi
ba chau phai danh it phut xin cau nguyen cho linh hon cua chu'
ay , 1 nguoi truoc 1975 chi moi 40 may tuoi ,rat anh hu`ng , rat
gioi , va luon duoc moinguoi kinh' trong ,ngay nay , chac co' le
da~ den ngay gio, Chu'a goi chu' ay ve voi Chua , thi chung ta
ko the nao tranh' khoi? , cau xin gia dinh chu' Truong dung buon
nhieu , chu' da song 1 cuoc doi*` rat co it' va rat duoc lo`ng
tat ca moinguoi dan trong va ngoai nuoc va thoi VNCH va cung con
keodai` den bay gio, dien^~ hi`nh la chu' ay cung se song mai
trong long lop*' tre , lop con chau cua nhung nguoi linh VNCH ,
trong do' co chau day....Buon thay cho gia dinh chu' ay va cho
ban be chien huu cua chu' ay cung thoi da mat di nguoi than
thuong , nhung chu' ay da lam het suc luc va het 1 doi cua chu
ay cho VNCH , chung chau rat vui khi duoc ong ba cha me ke ve su
tich cua chu' ay ,moi nguoi than trong gia dinh chu' Truong hay
lay do lam` niem vui , va 1 lan nua gia dinh chau xin nguyen cau
voi Thien Chua rang hay cho that nhieu anh' sang , de^~ dan^~
linh hon chu Truong ve nuoc Thien dan, de^~ cung vui ve ben canh
thien Chua va Duc me ,cung voi cac Thien Than ,Nguyen cau linh
hon chu ay duoc yen nghi , va cau cho gia dinh binh an nhieu suc
khoe , ..va noi xa xoi tan VN nay chau se cau nguyen cha chu'
Truong cung nhu xin thien chua ban nhieu nghi luc de gia dinh
cung vuot qua canh buon khi mat di nguoi than yeu cua minh
Chau xin thanh` kinh phan^ uu
Nguyen Thi Bao Phuong
Phuong
Quân đoàn một
mây sầu ảm đảm
Bang
Virginia gió lạnh thổi từng cơn!
Nhớ khi xưa,
Ngô tướng quân nơi Cổ thành giương cờ đại soái,
Giặc Cộng nô phải thất đảm kinh tâm.
Khắp bốn vùng vang dội oai phong
Mưa nhân nghĩa thấm nhuần quân ,dân, cán ,chính
Than ôi!
Nay vận nước đang thế Bỉ,
Ma quỷ nắm binh quyền
Muôn dân đồ khổ.
Quỳ trước linh sàng.
Nén hương trầm thành kính dâng lên
Xin Ngô tướng anh minh hiển thánh,
Quay trở về diệt lũ Cộng ác ôn,
Cứu đất Việt qua cơn nghiệt ngă.
Có linh xin chứng giám!!
VinhNguyen (cục ANQĐ- Cần Thơ 1969)
Thay lời phân
ưu thành kính –
Nước Việt Lẫm Liệt NGUYỄN KHOA NAM
Nhà Nam Lẫy Lừng NGÔ QUANG TRƯỞNG
Đôi Thanh Gươm Báu - Địch Kinh Hồn
Hai Cổ Thần Công – Giặc Khiếp Viá
Nhà Tan - Ôm Quốc Kỳ Tuẫn Tiết
Nước Mất - Rũ Chiến Bào Thúc Thủ
Muôn Đời Lưu Danh Trang Chiến Sử
Vạn Kiếp Vang Tiếng Giấy Binh Thư
Ngàn Năm Thương Hoài Vị Danh Tướng
Thiên Niên Tiếc Măi Đấng Anh Hùng
Xin kính cẩn ngiêng ḿnh dâng lên một nén nhan ḷng!!
N Nguyen
TIỄN
BIỆT
Hôm nay tiễn biệt một anh hào
Thoát khỏi trần gian kiếp lao đao
Quảng Trị c̣n lưu bao chiến tích
Miền trung vẫn nhớ lắm công lao
Hiên ngang sát cánh cùng binh sĩ
Nghĩa khí tương thân với đồng bào
Tiết liệt gương kia c̣n sống măi
Lưu danh hậu thế đến muôn trào.
Trở
về đầu trang
Lịch
Sử và Nhân Chứng
Lê
Quê Lâm
(trích từ Tin Paris)
Ngày 21/01/2007 cựu trung tướng Ngô
Quang Trưởng qua đời, năm ngày sau báo Sài-G̣n Nhỏ Orange ở Cali có
bài viết “Tướng NQT, ông là ai?” Nội dung trích từ quyển sách của
cựu thiếu tưóng Hoàng Văn Lạc và cựu đại tá Hà Mai Việt. Sau đó có
hai tiếng nói phản hồi: Một của Nguyễn Thế Thiên & Sơn Hà với tựa đề
“Sự thật về bài viết về tướng NQT” (The Little Saigon News of
Orange, March 9-2007). Hai là bài viết “Lời nói không đúng, báo
không nên viết!” của Phan Nhật Nam (Báo Dân Việt, Thứ sáu
23/03/2007).
Ba bài báo trên ghi
lại một số biến cố trong cuộc chiến VN, với các nhận xét như: “tướng
Trưởng tầm thường, sở dĩ được thăng thưởng là nhờ tướng Cao Văn Viên
nâng đở, danh tiếng chỉ là huyền thoại”, hoặc tướng Hoàng Lạc th́ “tự đề
cao, viết sai sự thật”. Đó không phải là những điều mà người đọc quan
tâm, họ chỉ muốn biết vị danh tướng nổi tiếng trong sạch NQT đă tiết lộ
những sự thật ǵ về lịch sử, chẳng hạn như “Tại sao tôi bỏ Huế” hoặc “TT
Thiệu đă chỉ thị ǵ khi ra lịnh ông rút bỏ QĐ I”…
Cuộc chiến đă kết thúc
từ 32 năm trước, song có nhiều sự kiện chưa được sáng tỏ, hầu giúp những
người đi sau “ôn cố tri tân” để đưa đất nước vượt qua thảm trạng hiện
nay. Nhiều nhân chứng lịch sử lần lượt qua đời và hiện có khá nhiều hồi
kư viết về những biến cố trước 1975. Mỗi tác giả tùy theo vị trí đứng
của ḿnh mà nhận định về lịch sử. Họ có quyền tự hào hoặc biện minh việc
ḿnh đă làm; họ có thể đề cao những ai ban ơn cho họ. Không ai chê trách
mà có thể c̣n khen sự trung hậu của họ… Nhưng xin đừng có ư nghĩ muốn
độc giả đồng t́nh với ḿnh. Cũng phải tôn trọng lịch sử và người đọc,
giúp họ thấy được sự thật của những biến cố lịch sử, họ cũng có đầu óc
để nhận xét cái đúng cái sai.
Theo nhà báo lăo thành
Nguyễn Tú, lịch sử ghi lại những sự kiện xảy ra theo đúng nguyên trạng,
từ đó các sử gia sắp xếp có suy nghĩ để tạo thành một toàn cảnh chung,
giúp họ nh́n thấy rơ các sự kiện trong tiến tŕnh xảy ra mà viết thành
sử. Việc sắp xếp các sự kiện lịch sử để tạo dựng lại được một cách trung
thực dù là tương đối -một giai đọạn lịch sử khả tín, các sử gia không
khỏi vấp phải những chỗ trống nan giải, lúc này đành phải để chữ “tồn
nghi” chưa chắc chắn, để người sau bổ túc. Tuy nhiên, lịch sử -bất luận
ở thời đại nào, bất cứ ở nơi đâu, xưa nay, đều không bao giờ có chuyện
“ngẫu nhiên”. Lịch sử -theo một qui luật bất di bất dịch là qui luật
“nhân quả”, để nhận định, mà không cần phán xét rườm rà; c̣n người đời,
có thể “tùy nghi”. Lịch sử đứng trên tất cả v́ tính chất vô tính, vô
t́nh và vô thần của nó. Lịch sử cũng không cần được ban cho hai chữ
“khách quan”. Lịch sử là lịch sử thế thôi. (1)
Rất tiếc có nhiều tác giả v́ muốn lôi kéo người đọc đứng về phía họ, nên
cố t́nh bóp méo sự thật lịch sử. Vô h́nh chung, tự ḿnh đánh mất giá trị
của ḿnh và c̣n mang tội đối với đất nước.
Lịch sử do con người
làm ra, họ tạo nhân ǵ tất gặt quả nấy, không thể nào tránh khỏi, đó là
tính tất yếu của lịch sử. Nói “lịch sử phán xét” chớ thật ra cũng do
người đời mà thôi, nhưng dựa vào đâu để phán xét? Có lẽ phải dựa vào
việc làm của những “nhân vật” lịch sử có đáp ứng với lợi ích chung của
nhân dân hay không? Có hợp với đạo đức của dân tộc, với thời thế và trào
lưu tiến hóa của nhân loại hay không? Trước thảm trạng đất nước, những
ai c̣n ưu tư đến tiền đồ dân tộc phải chịu khó đọc lại lịch sử, cần lịch
sử soi sáng…Nhưng lịch sử phải được ghi lại đúng như nguyên trạng của
nó.
Nhân ngày 30/4 và một nhân chứng lịch sử
vừa vĩnh viễn ra đi, chúng tôi xin ghi lại một bí ẩn lớn trong cuộc
chiến VN mà rất ít người biết được. Đó là Bản dự thảo Hiệp định
Paris ngày 26/10/1972 ra đời trong bối cảnh nào? Từ đó đưa đến sự
xung đột trong mối giao hảo giữa VNCH và đồng minh HK với kết cuộc
là biến cố 30/4. Đồng thời cũng để tưởng niệm cố Trung tướng Ngô
Quang Trưởng.
Xế
chiều ngày 25 tháng 10 năm 1972, từ bản doanh BTL Tiền phương QĐ I ở Phú
Bài (Huế), tướng Ngô Quang Trưởng khẩn tŕnh TT Thiệu một tin tức quan
trọng: Lực lượng Cảnh sát Quốc gia QK 1 vừa tịch thu một mật điện của Bộ
Tư lịnh QK 5 CS gởi Bộ Chỉ huy Thị đội Tam Kỳ (Quảng Tín) cho biết một
hiệp định ngưng bắn sẽ được kư kết ngày 26/10. Kèm theo mật điện là bản
phương án hướng dẫn việc cắm cờ lấn đất giành dân và sách động đồng bào
xuống đường mừng ḥa b́nh. Lợi dụng khí thế quần chúng, cán bộ CS hô hào
đốt phá các cơ sở quân sự tiến tới cướp chánh quyền.
Được báo cáo của tướng Trưởng, TT Thiệu chỉ thị Bộ TTM chuyển cấp tốc
tài liệu đó về Sàig̣n. BTL/KQ liền điều động hai phi cơ A37 từ B́nh Thủy
(Cầnthơ) về phi trường TSN đưa T/tá Vơ văn Thành, Trưởng ban Tiếp nhận
và Chọn lựa tài liệu, đi QK1 lấy tài liệu. Khi A37 sắp đáp xuống Đà
Nẳng, phi công báo về Sàig̣n, lúc bấy giờ tướng Vơ xuân Lành -Tư lịnh
phó Không quân và tướng Lê Ngọc Triển -Tham mưu phó Hành quân Bộ TTM túc
trực tại phi trường TSN. Họ gọi điện báo ra Phú Bài và đích thân tướng
Trưởng mang tài liệu về Đà Nẳng trao cho T/t Thành. Tài liệu về đến
Sàig̣n, trong đêm đó, chúng tôi đă thảo bản tin phổ biến cấp thời cho
các địa phương và viết phiếu tŕnh Tổng TMT.
V́ tính chất khẩn cấp, tờ tŕnh được chuyển thẳng lên Phủ Tổng thống.
Sáng sớm hôm sau, chúng tôi được Tr/tá Nguyễn quang Ngọc, CHT Trung tâm
Khai thác tài liệu, hướng dẫn đến Dinh Độc lập tŕnh bày chi tiết với
Trung tướng Đặng văn Quang, Phụ tá An ninh Quân sự tổng thống, trong khi
TT Thiệu họp khẩn cấp với các tư lịnh sư đoàn và các tỉnh trưởng. Tướng
Quang cho biết, Kissinger vừa rời Sàig̣n ba ngày trước, trong năm ngày ở
đây để tham khảo với chánh phủ về bản dự thảo hiệp định, ông ta không đề
cập ǵ đến việc kư kết, mà chỉ đưa ra một phó bản hiệp định để hai bên
thảo luận. Trong khi chánh phủ VNCH chưa biết ǵ về việc kư kết và ngưng
bắn th́ tại Trung ương Cục Miền Nam và Quân khu 5 CS, cán bộ CS đă biết
rơ ngày kư kết và giờ ngưng bắn có hiệu lực, để lợi dụng thời cơ đó
chiếm ưu thế bằng cách lấn đất giành dân và cướp chánh quyền. Tại Củ Chi
(Hậu Nghĩa), Hồng Ngự (Kiến Phong) và nhiều nơi khác, các đơn vị vũ
trang CS tưởng có ngưng bắn thực sự, đă nhào ra đồng bằng cấm cờ lấn đất
giành dân bị tổn thất nặng nề. (2)
Để biện minh cho hành động thất tín, chiều 27/10, đài phát thanh
Hànội công bố toàn văn bản dự thảo hiệp định bằng ba thứ tiếng Việt, Anh
và Pháp với hai bức điện xác nhận sự thoả thuận của TT Nixon. Bắc
Việt tố cáo HK lật lọng tráo trở v́ Kissinger đă hứa sẽ đi Hànội phê
chuẩn rồi lại sai hẹn. Hai giờ sau khi Hànội công bố bản văn hiệp định,
Kissinger mở cuộc họp báo tại Bạch Cung (sáng 26/10 giờ HK). Đây là lần
đầu tiên, ông họp báo công khai thừa nhận: “hoà b́nh hiện đang ở trong
tầm tay, hiệp định đang ở trong tầm mắt thấy, đặt trên cơ sở đề nghị
ngày 8/5 vừa qua của tổng thống…Đó là một đề nghị công bằng cho tất cả
mọi phe” (3). Kissinger cho biết chỉ c̣n một vài chi tiết nhỏ cần thảo
luận thêm trước khi thoả hiệp được kư kết.
Cuộc đàm phán HK/CSVN
đă bắt đầu tại Paris từ ngày 13/4/1968, trong thế “vừa đánh, vừa đàm”.
Hànội muốn kéo dài đàm phán để thắng Mỹ v́ phong trào phản chiến ngày
càng lan rộng, đ̣i Mỹ phải rút khỏi VN. C̣n HK th́ cần thời gian để củng
cố MN hầu chiến thắng CS bằng cuộc tổng tuyển cử tự do. Trong bốn năm
sau đó, HK xúc tiến việc tăng cường QLVNCH, b́nh định nông thôn để thực
hiện chương tŕnh “người cày có ruộng”, thành lập các ngân hàng phát
triển nông thôn và kế hoạch phát triển kinh tế thời hậu chiến.
Từ giữa năm 1972,
t́nh thế VN đă có biến chuyển lớn. Nixon ra lịnh tái oanh tạc miền
Bắc, rào ḿn phong tỏa cảng Hànội và Hải pḥng để ngăn chận nguồn tiếp
tế của khối XHCN giúp BV. Nixon cũng đă thành công trong việc thiết lập
bang giao với TC và kư hiệp ước SALT với LX. Cả hai nước này đều cam kết
sẽ áp lực Hànội chấm dứt chiến tranh. Trong khi đó QLVNCH đă tái chiếm
Quảng Trị, c̣n tại Mỹ, đang diễn ra cuộc bầu cử giữa ứng cử viên bồ câu
McGovern và diều hâu Nixon. Hànội cho rằng đây là thời cơ để tấn công
ḥa b́nh, giành thắng lợi. Do đó, từ cuối tháng 7/1972, khi cuộc mật đàm
tái tục, Hànội tỏ ra ḥa hoăn không c̣n đ̣i loại bỏ chánh quyền Nguyễn
văn Thiệu.
Ngày 11/9/1972, BV đưa ra đề nghị mới “giải quyết vấn đề nội bộ MNVN là
phải xuất phát từ t́nh h́nh thực tế có hai chánh quyền và các lực lượng
chính trị khác. Do đó cần thành lập một chánh phủ ḥa họp dân tộc lâm
thời gồm ba thành phần ngang nhau, đảm đang mọi công việc trong thời
gian quá độ, để tổ chức tổng tuyển cử thực sự tự do dân chủ”. Hai tuần
sau, trong cuộc mật đàm lần thứ 19, lần đầu tiên BV đồng ư một cuộc
ngưng bắn tại chỗ với một giải pháp chánh trị cho MNVN. Ngày 8/10/1972
Hànội đưa ra bản dự thảo hiệp định, gần như họ đồng ư tất cả đề nghị của
HK kèm theo một số điều kiện của họ, để hai bên thảo luận trong kỳ họp
tới. Bản dự thảo được Kissinger thông qua và một lịch tŕnh tiến hành
đưọc hai bên chấp nhận:
-
-Ngày 18/10, HK ngưng oanh tạc và tháo gở ḿn ở
các cửa biển BV. Cùng ngày, Kissinger đến Sàig̣n tham khảo với
VNCH về bản dự thảo hiệp định.
-
-Ngày 24/10 Kissinger và Thọ phê chuẩn bản dự
thảo sau khi được chánh phủ VNCH đồng ư.
-
-Ngày 26/10 bản văn hiệp định được kư kết tại
Paris.
-
-Ngày 27/10 cuộc ngưng bắn bắt đầu.
Lúc đầu, LĐT đ̣i ngừng bắn ngày 31 tháng 10, nhưng bị Kissinger bác bỏ
v́ đây là cuộc ngưng bắn tại chỗ, nên phải thi hành ngay sau khi hiệp
định được kư. Nếu muốn ngưng bắn ngày 31 th́ hiệp định sẽ kư kết ngày
30. (4)
Trong hiệp định có một
vài điều khoản bất lợi, song Kissinger phải chấp nhận, v́ HK cần có một
hiệp định ḥa b́nh trước ngày bầu cử tổng thống 7/11 sắp tới. Vấn đề duy
nhất mà CSBV không chịu nhượng bộ là việc rút quân của họ khỏi MN. Nixon
cho rằng “HK không có cách nào bắt buộc BV phải nhượng bộ điểm này”. LĐT
luôn nói rằng “Quân đội Mỹ th́ rút về Mỹ, c̣n quân đội VN đóng trên đất
nước VN, th́ rút đi đâu?” (5) Ông cứ dùng lập luận đó để kéo dài đàm
phán. Nixon thừa nhận: “Dù VNCH có xoay ngược được thế cờ, tái chiếm
Quảng Trị và cố thủ B́nh Long, nhưng BV vẫn c̣n chiếm đóng nhiều khu vực
rộng lớn ở MN dọc theo khu PQS và trên vùng Cao nguyên. Nếu đi đến ḥa
giải lại đ̣i BV phải cho không những lănh thổ mà VNCH không thể giành
lại được, th́ BV sẽ chọn con đường, thà đừng đi tới ḥa giải c̣n hơn.
Nếu cứ khăng khăng đ̣i BV phải rút ra khỏi MNVN th́ ắt đă không có hiệp
định ḥa b́nh”. Để giải quyết nan đề này, HK chỉ đ̣i Hànội hứa sẽ không
đưa quân vào MN nữa. Nixon hy vọng nếu BV giữ lời hứa, các lực lượng của
họ ở MN sẽ phải rút ra, nếu không th́ tan ră. Đ̣i hỏi của HK được Hànội
đồng ư, hai bên chấp nhận một thời khóa biểu kư kết hiệp định như vừa
kể. (6)
Theo đúng lịch tŕnh, ngày 18/10/1972 Kissinger rời Paris đi Sàig̣n
tŕnh bày bản dự thảo HĐ với chánh phủ VNCH sau đó đến Hànội dàn xếp một
vài điểm kỹ thuật và phê chuẩn bản văn. Tại Sàig̣n, Kissinger chuyển đến
Thiệu lá thư riêng của Nixon đề ngày 16/10/1972. Nixon cho rằng trong
bốn năm cầm quyền ông “Đă đứng sau lưng chánh phủ và nhân dân VNCH, ủng
hộ sự đấu tranh dũng cảm của họ, nhằm chống xâm lăng và bảo tồn quyền tự
quyết về tương lai chánh trị của ḿnh”. Hoa Kỳ “cũng không bao giờ
thương lượng với BV một giải pháp nào, có thể định đoạt trước tương lai
chánh trị của MN. Chúng tôi trước sau vẫn triệt để tôn trọng lập trường
là duy tŕ chánh phủ dân cử và bảo đảm cho nhân dân tự do VN cơ hội
quyết định tương lai ḿnh”. Đề cập đến t́nh h́nh sắp đến, khi cuộc xung
đột quân sự chuyển sang đấu tranh chính trị, Nixon viết rằng: “Nếu
như ta có thể mạo hiểm trong chiến tranh th́ tôi tin là ta cũng phải mạo
hiểm trong ḥa b́nh. Ư định của chúng tôi là quyết tâm tôn trọng những
điều khoản trong các hiệp định và thỏa thuận kư kết với Hànội và tôi
cũng biết rằng đó cũng là thái độ của chánh phủ Ngài. Chúng tôi đ̣i hỏi
phải có qua có lại và đă cảnh giác cho cả họ lẫn các đồng minh lớn của
họ biết rơ như thế. Tôi xin cam kết với Ngài rằng bất cứ một sự bội tín
nào về phía họ, cũng sẽ bị chúng tôi lên án khắc khe nhất và nó sẽ có
những hậu quả trầm trọng nhất”. (7)
Dự thảo hiệp định ra
đời trong hoàn cảnh cấp bách, có nhiều điểm bất lợi cho VNCH, do đó,
trước khi đi Sàig̣n, Nixon căn dặn Kissinger tránh chạm trán với Thiệu.
Sau 5 ngày thảo luận, Kissinger rời Sàig̣n mang theo bức thư của Thiệu
gởi Nixon trong đó tóm lược những điểm phản đối của VNCH. Khi từ giả,
Kissinger yêu cầu Thiệu: “Tôi yêu cầu có một sự đồng ư giữa chúng ta là
không tiết lộ cho báo chí biết bất cứ điều ǵ đang diễn tiến. Hăy làm
như chúng ta đă có được một buổi họp xây dựng”. Tới phi trường TSN,
Kissinger thấy một đám kư giả, và nhiếp ảnh viên chực sẵn. Ông ngừng lại
vài phút, một phóng viên hỏi: “chuyến đi này có được việc, có xây dựng
không?” Ông trả lời: “được việc và xây dựng. Như bất cứ lần nào tôi đến
đây”. (8). Như vậy, Kissinger đă thực hiện trọn vẹn mọi việc: đến Sàig̣n
tham khảo bản dự thảo hiệp định với VNCH. Đón nhận những đ̣i hỏi sửa đổi
của TT Thiệu, Kissinger đă có cớ để tạm hoăn việc kư tắt hiệp định với
LĐT như đă dự trù. Kissinger cũng đă giữ đúng cam kết mật đàm với LĐT,
không tiết lộ bất cứ một điều ǵ về thời điểm kư kết và ngưng bắn. Việc
tham khảo với VNCH như ông tuyên bố “được việc và xây dựng”, nghĩa là
mọi việc êm xuôi, việc kư tắt sẽ tiến hành. Như thế, Hànội an tâm mọi kế
hoạch không có ǵ thay đổi, liền ra mật lịnh lợi dụng ngày ngưng bắn như
tŕnh bày trên.
Ngày 3/11/1972 -bốn
ngày trước khi dân chúng Mỹ đi bầu tổng thống và quốc hội, trong cuộc
vận động tranh cử ở Rhode Island, Nixon tiết lộ thỏa ước ḥa bỉnh đạt
được với BV phải đáp ứng 3 điểm mà ông đưa ra ngày 8/5: Một là ngưng bắn
trên toàn cỏi Đông Dương, không những ở VN mà cả ở Lào và Cam bốt nữa.
Hai là hồi hương tù binh Mỹ và giải quyết vấn đề người Mỹ c̣n mất tích
trong cuộc chiến. Ba là nhân dân MNVN có toàn quyền quyết định tương lai
của họ, không được áp đặt một chánh quyền cộng sản hoặc liên hiệp nào
trái ư nguyện của họ. Nixon thừa nhận có một vài chi tiết của hiệp định
cần được nghiên cứu v́ tầm quan trọng của nó và “điều quan trọng nhất
là chúng ta sắp chấm dứt cuộc chiến này, chấm dứt cách nào để có một nền
ḥa b́nh thực sự trong những năm sắp đến. Đó là những ǵ mà nhân dân HK
mong muốn”. (9)
Ngày 7/11, Nixon tái
đắc cử nhiệm kỳ hai với số phiếu bầu kỷ lục. Có thể nói, việc tŕ hoăn
kư tắt hiệp định khiến CSBV bị “hố” khi ra mật lịnh tấn công khi có
ngưng bắn, là một thủ đoạn có tính toán của HK. Họ mượn tay BV công bố
bản hiệp định trước ngày bầu cử ở Mỹ để cử tri Mỹ thấy rằng Nixon đă làm
đúng lời hứa; chấm dứt chiến tranh VN trong nhiệm kỳ của ông. Mặt khác
họ muốn cho thế giới thấy rằng Hànội sẽ không bao giờ thực hiện nghiêm
chỉnh HĐ. Chính BV đă vi phạm HĐ ngay cả trước khi nó có hiệu lực. Ngoài
ra, sở dĩ HĐ chưa thể kư được v́ HK coi những đ̣i hỏi của TT Thiệu là
chánh đáng, cần phải bàn thảo thêm với BV. Nhân đó áp lực Hànội phải
chấp nhận ba điểm của Nixon. Quả thực, HĐ Paris 1973 đă thỏa măn
phần lớn những đ̣i hỏi của ông Thiệu và HK. Và cuối cùng giúp VNCH rút
kinh nghiệm để đối phó khi HĐ chánh thức ra đời. (10)
Thay đổi lịch sử: V́ những điểm
trên, tôi rất thích thú khi thấy Gs Nguyễn tiến Hưng đề cập đến sự kiện
-mà bản thân tôi là chứng nhân- trong quyển Hồ sơ mật Dinh Độc lập.
Song tôi hết sức ngạc nhiên, khi thấy tác giả đă
mang một sự kiện xảy ra vào ngày 26/10, gán nó vào ngày 17/10. Và từ sự
kiện này mở đầu cho câu chuyện tranh căi gay gắt giữa Kissinger với TT
Thiệu và bí thư Hoàng đức Nhă khi Kissinger đến Sàig̣n từ 18 đến 23
tháng 10/1972. Đó là nội dung Chương V – Mưu đồ của Kissinger, được bắt
đầu nguyên văn như sau:
“Vào lúc năm giờ chiều ngày 17-10-1972, ông Thiệu ra lịnh cho Bộ TTM
gấp rút chuyển về Sàig̣n một tập tài liệu vừa bắt được của Việt Cộng,
t́m thấy dưới hầm một tên chính ủy thuộc tỉnh Quảng Tín. Được chở khẩn
cấp bằng máy bay nhẹ, rồi máy bay trực thăng qua Đà Nẳng, các tài liệu
này về tới bàn giấy ông Thiệu lúc nửa đêm. Ông vội vă đọc, hết sức sửng
sốt v́ nhận ra ngay rằng cán bộ CS, trong một tỉnh lỵ cô lập ở miền
Trung, c̣n biết được nhiều chi tiết về ḥa đàm Paris hơn là chính ḿnh.
Tài liệu mang tên “Chỉ dẫn tổng quát về ngưng chiến” có nội dung dường
như lấy từ bản sơ thảo hiệp định lúc ấy đang được Kissinger và Lê đức
Thọ thương thảo tại Pháp, và tiết lộ những nhượng bộ cơ bản của
Kissinger. Cho đến lúc ấy, Thiệu chưa hề biết ǵ đến bản dự thảo cuối
cùng của hiệp định, và chẳng được Kissinger thông báo ǵ cả. Vậy mà tại
một tỉnh lỵ hẻo lánh xa xôi, phía nam Đà Nẳng, quân, cán CS đă đang bắt
đầu học tập các tài liệu đó rồi, và dựa vào đó để chuẩn bị hành quân.
Nổi bật nhất phải kể đến chi tiết liên quan đến chiến lược và chiến
thuật của BV nhằm duy tŕ lực lượng tại miền Nam sau khi có tuyên bố
đ́nh chiến”. Sách viết tiếp: “Sau này, kể lại, lúc đọc xong tài liệu ông
nói: “Đó là lần đầu tiên tôi biết được là ḿnh đă bị Mỹ qua mặt. Người
Mỹ nói với tôi là vẫn c̣n đang thương thuyết, là chưa có ǵ dứt khoát
cả, thế mà bên kia đă có đầy đủ tin tức rồi” (Tr.145-46)
Có lẽ xuất phát từ HSMDĐL, mà quyển No Peace,
No Honor - Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam do Tiến sĩ Larry
Barman xuất bản năm 2001, đă viết: “On October 17 Thieu
received a captured enemy document found in an underground bunker in a
remote VC district in Quang Tin province.
Titled “General Instructions for a
Cease-Fire”, Thieu now realized that “commmunist cadres in an isolated
province of Central Vietnam knew more about the details of the Paris
talks than he did”. (Page 161) Sách của giáo sư Barman được Giáo sư
Nguyễn mạnh Hùng chuyển dịch sang Việt ngữ: Không Ḥa b́nh, Chẳng Danh
dự với lời đề tựa của ông Hoàng đức Nhă xuất bản năm 2003.
Sau đó đến quyển Đất Nước Tôi của cựu thủ tướng Nguyễn bá Cẩn,
cho biết “Ngày 19 tháng 10 năm 1972, Kissinger đến Sàig̣n để thuyết phục
TT Thiệu chấp nhận bản thảo ḥa ước chấm dứt chiến tranh....Tưởng nên
nói thêm rằng ngày 17/10/1972, tỉnh Quảng Tín đă tịch thu được một tài
liệu của CSBV gởi các đơn vị trong Nam tựa đề “Chỉ thị tổng quát về một
cuộc ngưng bắn”, trong đó có mật lệnh quan trọng nhất là các đơn vị VC
phải mở tấn công cao điểm chiếm đất giành dân càng nhiều càng tốt, để
nới rộng vùng kiểm soát của bọn chúng. Th́ ra hai ngày trước khi TT
Thiệu được trông thấy bản dự thảo ḥa ước, th́ Hànội đă “bán” được cho
Kissinger điều khoản “ngưng chiến tại chỗ”(stand-still cease fire) nên
đă chỉ thị các đơn vị MN của bọn chúng khai thác tối đa thắng lợi này.
C̣n Kissinger th́ ngỡ rằng có thể áp lực được TT Thiệu để ngày
21/10/1972 bay sang Hànội hầu kư tắt (initial)”. (Tr. 259-260)
Quyển HSMDĐL c̣n tiết lộ, sau khi nhận bản dự thảo hiệp định từ tay
Kissinger vào buổi sáng 19/10/1972, TT Thiệu giao cho Hoàng Đức Nhă
nghiên cứu trước khi gặp lại Kissinger vào 5 giờ chiều. Nhă phân phát
cho Ngoại trưởng Trần Văn Lắm, Cố vấn Nguyễn Phú Đức và Đại sứ Trần Kim
Phượng mỗi người một bản sao để tham khảo trước. Đến trưa, Nhă mời họ
dùng cơm ở nhà hàng La Cave. Ngồi vào bàn, Nhă
hỏi ngay: “Quư vị nghĩ thế nào?” Họ trả lời: “Không đến nổi nào. Chúng
tôi tưởng c̣n tệ hơn nữa”. Nhă gay gắt “Thế nào là không đến nổi nào?
Quư vị đă đọc kỹ chưa?” (Tr.154) Sau đó Nhă tới dinh Độc lập giục ông
Thiệu đ̣i thêm th́ giờ để nghiên cứu và đề nghị “Xin anh bỏ buổi họp năm
giờ đi”. Thiệu đáp “Nhưng ḿnh đă lở hứa rồi”.
Ts Hưng viết tiếp nguyên văn như sau: “Cùng một lúc, ông Thiệu
lại nhận ngay được những báo cáo khẩn từ các bộ tư lệnh quân đoàn cho
biết địch đang tập trung theo đúng những chỉ thị ghi trên những tài liệu
tịch thu. Nhă nói ‘ḿnh phải triệu tập tất cả các tỉnh trưởng về Sàig̣n
sáng ngày mai, và em sẽ lấy đó làm cái cớ để hoăn cuộc họp với
Kissinger’. Thiệu quyết định không cho Kissinger biết về những tài liệu
tịch thu, v́ ông muốn để xem Kissinger sẽ nói ǵ về những điều kiện ông
ta đă thỏa thuận với BV; ngoài ra Thiệu không muốn cho Kissinger có dịp
để căi rằng đó chỉ là chiến dịch phản tuyên truyền của CS. Thiệu nghĩ
rằng đối chất Kissinger với những tài liệu tịch thu đó th́ chỉ gây thêm
căng thẳng mà thôi”. (Tr.171-72. Tác giả ghi chú: phỏng vấn Hoàng Đức
Nhă ngày 23-7-1985)
Đọc đoạn văn trên, những nhân chứng hiện nay c̣n sống ở HK như Đại
tướng Cao Văn Viên -cựu Tổng TMT, Đại tá Hoàng Ngọc Lung -cựu Trưởng
pḥng Nh́/Bộ TTM, Tr/tá Ngọc, T/tá Thành, Đ/úy Nguyễn Cao Thăng… và cựu
Tr/tướng Đặng Văn Quang ở Canada, sẽ đánh giá TT
Thiệu là người nói dối. V́ vào ngày 20/10 làm sao ông có được tài liệu
tịch thu ngày 25/10, để đối chất với Kissinger? V́ thế ông “quyết
định không cho Kissinger biết tài liệu đó”. Và làm sao có việc “các quân
khu báo cáo khẩn địch đang tập trung theo đúng những chỉ thị ghi trên
những tài liệu tịch thu”?
Tóm lại, không có ǵ chứng tỏ Kissinger nói dối. Ông đi Sàig̣n,
trao nguyên văn bản dự thảo hiệp định để thảo luận và ông đă có áp lực
VNCH kư kết. Điều đó cho thấy ông đă làm đúng lời hứa với LĐT, có như
vậy Hànội mới tin chắc là hai bên sẽ kư tắt vào 24/10 như đă thỏa thuận.
Ông cũng đă cố thuyết phục TT Thiệu suốt 5 ngày, nhưng v́ ông Thiệu nêu
ra những điểm rất chánh đáng đ̣i phải sửa đổi, và ông đă chấp nhận. Do
đó, khi rời Sàig̣n, ông đă báo ngay cho LĐT biết là hai bên chưa thể
hoàn tất hiệp định được. Trái lại, Nhă lên án
Kissinger nói dối, bằng cách thay đổi lịch sử, đặt điều những chuyện
không có thật. Hậu quả là tổng thống VNCH mang tiếng nói dối. Thanh danh
đất nước bị hoen ố. Lúc đương quyền, được TT Thiệu tin cậy, trao cho
quyền cao chức trọng, thử hỏi giờ đây hai ông Hoàng Đức Nhă và Nguyễn
Tiến Hưng có dám đính chánh, nói lên sự thật để giải oan cho người đă
khuất hay chưa?
Hậu quả của việc tráo trở sự kiện lịch sử của
giới lănh đạo VNCH, thật ra chỉ có Hoàng Đức Nhă -người em bà con của
ông Thiệu và bè bạn của Nhă mà tuổi đời chỉ trên dưới 30, đă làm miền
Nam sụp đổ. Đó là nổi bất hạnh của dân tộc khi vị lănh đạo
quốc gia đặt vận mạng đất nước vào đứa em họ mà ông “tin cậy và coi là
một chuyên gia vể HK”. Nhă học ở HK “đă nhiễm được những phong cách,
dáng điệu, cũng như những tiếng lóng của người Mỹ” và “phong cách lấc
cấc kiểu Mỹ con, giữa thời chiến mà y lái xe Mustang mui trần, rồi
Mercedès ngông nghênh diễn ra các phố phường Sàig̣n. Đó là biểu hiệu của
sự phô trương và đặc quyền” hoặc “một số chánh khách cả Việt lẫn Mỹ đă
coi anh ta như là người thiếu kinh nghiệm, kiêu ngạo và hay lạm dụng
quyền thế”. Đó là những nhận xét của Ts Nguyễn Tiến Hưng (11)
Trong lúc HK sắp kết thúc chiến tranh bằng một
hiệp định ḥa b́nh đáp ứng những nguyện vọng lớn của toàn dân là dân chủ
tự do, độc lập thống nhất, với các cuộc tổng tuyển cử tự do để nhân dân
thực hiện quyền tự quyết của ḿnh. Th́ giới lănh đạo VNCH biến cuộc kết
thúc đó thành bước mở đầu một cuộc chiến mới giữa VNCH và HK. Từ đó Miền
Nam tự do mất hết đồng minh -không những từ sau HĐ Paris 1973, mà măi
đến ngày hôm nay.
Kết luận:
Số phận đau thương của đất nước cũng là số phận của một nhân chứng vừa
nằm xuống: cố Trung tướng Ngô Quang Trưởng. Tháng 10/1972 từ địa đầu
giới tuyến, ông báo cáo TT Thiệu một hiệp định ngưng bắn sắp sửa ra đời.
Trong 30 tháng sau đó, một thời gian đủ dài để giới lănh đạo quốc gia
thích nghi với t́nh thế mới từ đấu tranh quân sự sang đấu tranh chánh
trị. Đùng một cái, vào ngày 13/3/1975, ông được tổng thống gọi về Sàig̣n
bảo phải “rút bỏ QĐ I ngay hôm nay”. Ông tŕnh bày là “đủ sức chống giữ,
nhưng tổng thống và thủ tướng không chấp nhận. Lịnh bất di bất dịch là:
Phải rút khỏi QĐ I càng sớm càng hay”. Tuy vậy, ông vẫn chần chờ, cố giữ
vùng địa đầu giới tuyến, nhưng đến ngày 19/3 khi Cộng quân BV tấn công
Quảng Trị, dân chúng cố đô Huế ùn ùn kéo vào Đà Nẳng. Chỉ trong 10 ngày,
Đà Nẳng trở thành một thành phố hỗn loạn với số dân chúng tăng lên gấp
ba lần. Hầu hết các đơn vị c̣n đầy đủ vũ khí nhưng không người chỉ huy,
họ đổ xô ra bờ biển, trưng dụng và cướp ghe thuyền đánh cá của dân chúng
để xuôi Nam.
Ngày 30/3/1975, VNCH hoàn toàn mất quyền kiểm soát ở Đà Nẳng. Nếu cả kể
QĐ II (cũng được lịnh rút bỏ sau QĐ I một ngày) th́ 5 sư đoàn bộ binh,
các đơn vị nhảy dù, thủy quân lục chiến, các đơn vị không và hải quân,
các lực lượng địa phương quân và nghĩa quân, tổng cộng trên 270 ngàn đă
tan ră. Số binh sĩ và thường dân thương vong rất nhiều. Trước thảm cảnh
đó tôi rất đau buồn cho vận nước: từ ông tổng thống nổi tiếng “lỳ’, nay
hết “lỳ’ (không c̣n “bốn không”) th́ gặp phải ông tướng nổi tiếng tôn
trọng quân kỷ, nay lại bất tuân thượng lịnh. Ư nghĩ đó ám ảnh tôi suốt
hơn 30 năm qua…Nhưng mới đây, tôi biết thêm một sự thật từ một nhân
chứng mới: cựu phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, nguyên Tư lịnh Vùng I Duyên
hải. Trong quyển “Can trường trong chiến bại – Hành tŕnh của một thủy
thủ” (vừa được phát hành tại Cali ngày 21/3 vừa qua), tác giả tức Đề đốc
Thoại cho biết tướng Trưởng đă tiết lộ cho ông biết: “Ngày 13/3/1975 tại
dinh Độc lập, TT Thiệu nhận định không c̣n cách nào với ngân khoản viện
trợ của HK bị cắt giảm, chánh phủ có thể giữ được sự toàn vẹn của lănh
thổ miền Nam. TT Thiệu lấy viết vạch một đường từ Ban Mê Thuộc xuống Tuy
Ḥa và nói đó là ranh giới của miền Nam. TT Thiệu c̣n căn dặn tướng
Trưởng phải giữ kín không tiết lộ cho các tư lịnh sư đoàn, các tỉnh
trưởng cũng như hải quân và không quân biết việc bỏ miền Trung”.
Thử hỏi, tướng Trưởng làm sao có thể tuân hành một mệnh lệnh có thể
nói là “tàn nhẫn, cạn tàu ráo máng” của vị tổng thống, tổng tư lịnh tối
cao quân đội như vậy. Làm sao ông có thể nhẫn tâm bỏ rơi chiến hữu
-những thuộc cấp của ḿnh đă từng đồng lao cộng khổ tại tuyến đầu lữa
đạn. V́ thế ông phải nấn ná ở lại, cho đến ngày 29/3/1975 ông ra một
lịnh cuối cùng: “Các anh không c̣n nhiệm vụ ǵ nữa, các anh tùy nghi t́m
phương tiện ra tàu”. C̣n ông “ở lại một ḿnh trong trại TQLC ở căn cứ
Non Nước, không c̣n phương tiện khác”, chiếc trực thăng dành cho ông đă
cất cánh.(12) Đối với tôi, giờ phút này Trung tướng Ngô Quang Trưởng đă
tuẩn quốc. Có thể, sau khi mọi người ra đi, ông sẽ noi gương cụ Phan
Thanh Giản ngày trước -cùng quê hương Bến Tre với ông, quyên sinh ngay
tại biên trấn mà ḿnh nhận trọng trách. Khác với cụ Phan, tướng Trưởng
không đầu hàng. Nhưng sự đời run rủi, đại tá Nguyễn Thành Trí –tư lịnh
phó Sư đoàn 369 TQLC, nh́n thấy ông suy yếu sau nhiều đêm mất ngũ, không
đành bỏ lại nên trồng một áo phao vào người ông để bơi ra tàu.
Đến trưa ngày 29/4/1975, toàn bộ cấp chỉ huy ở Bộ Tổng Tham Mưu đều di
tản, chỉ c̣n đơn độc tướng Trưởng v́ cái quyết định của tướng Cao Văn
Viên bổ nhiệm ông làm phụ tá Tổng TMT. Đúng một tháng trước, ông không
được chết với Vùng I nơi ông trấn nhậm, th́ nay ông sẽ cùng chết với
QLVNCH tại cơ quan đầu năo này. Nhưng cũng do cơ trời run rủi, tướng
Nguyễn Cao Kỳ vào phút chót, đáp trực thăng xuống Bộ Tổng Tham Mưu, để
nắm t́nh h́nh, xem có thể cứu văn được ǵ không? Nơi đây vắng lặng chỉ
c̣n tướng Trưởng mà thôi. Tướng Kỳ đưa ông lên trực thăng bay ra hạm
đội.
Ba mươi hai năm qua sống ở hải ngoại, ông âm thầm ray rứt với lầm lỗi
của ḿnh (có lỗi với thượng cấp, và lỗi với thuộc cấp). Chính bà Trưởng
cũng chia sẻ với ông: chồng bà cũng có lỗi…Nhưng ông không nhắc đến cái
lịnh “tàn nhẫn” của TT Thiệu ngày 13/3/1975. Sau khi ông qua đời, cựu
phó Đề đốc Thoại mới tiết lộ.
Ông cố giữ uy tín
TT Thiệu đến cuối đời, trong khi những đệ tử tổng thống, “ở nhà mát ăn
bát vàng, sớm cao bay xa chạy” lại viết sách sửa đổi lịch sử để biện
minh cho lănh tụ, khiến TT Thiệu mang thêm tai tiếng: là kẻ nói dối.
Chú thích:
1.
Nguyễn Tú, Điểm tột cùng của sự ô nhục, Tivi Tuần san, Úc châu
06-02-2002.
2. Lê Quế Lâm, Việt Nam Thắng và Bại, Ngọc Thu xuất bản, Sydney,
1993, Tr.424-425)
3. Nguyễn Tiến Hưng & Jerrold L. Schecter, Hồ Sơ Mật Dinh Độc lập, C
& K Promtions Inc, Los Angeles, 1987, Tr. 194/195.
4+5. Lê Đức Thọ, Bài nói chuyện với Lực lượng Pḥng không/Không quân
BV. (Tài liệu do QLVNCH tịch thu hồi tháng 3/1973).
6- Richard Nixon, No More Vietnam, Arbor House, NY, 1985, P.
152/153.
7- Nguyễn Tiến Hưng & Jerrold L. Schecter, Sđd, Tr. 149-152.
8- Nguyễn Tiến Hưng & Jerrold L. Schecter, Sđd, Tr. 182.
9- Stephen E. Ambrose, Nixon –Volume II, The Triumph of a Politician
1962-1972, Simon & Schuter, London, 1989, P.643-44.
10- Lê Quế Lâm, Sđd, Tr. 426.
11. Nguyễn tiến Hưng & Jerrold L. Schecter, Sđd, Tr.80.
12- Lữ Giang, Can trường trong chiến bại – Hành tŕnh của một thủy
thủ, Báo Việt Luận, Úc châu 06-04-2007
|