Các bài trong đề mục

Tài Liệu

theo thứ tự abc

Chính Việt xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng và bài vở, xin email về baochinhviet@gmail.com.
DiễnĐàn | QuanĐiểm | ThờiSự | CộngĐồng | ViệtNam | ThơVăn | KhôngQuênBạnTù | HoaThờiLoạn | TàiLiệu | Media | HồiKý | TổngHội | KhuHội

Tổng Hội CTNCTVN

Bức Tường Thương Tiếc


Radio

RFA - Á Châu Tự Do

VOA - Tiếng Nói Hoa Kỳ

BBC - Đài Anh Tiếng Việt

RFI -  Đài Pháp Tiếng Việt

Little Saigon Radio

Đài Phật Giáo Việt Nam

Đài Đáp Lời Sông Núi

 


Quốc Tế Cộng Sản

và

Cộng Sản Quốc Tế

 

Lời Giới Thiệu

 

236 Năm trước khi tư tưởng

"Quốc Tế Cộng Sản" ra đời

 

Sự thai nghén ban đầu của

cái quái thai cộng sản

 

Cộng sản ở Việt Nam là ai?

 

Một cái nhìn khái quát về Hội Kín 

ở Âu Châu thời trung cổ

 


Sự ra đời của quái vật

Quốc Tế Cộng Sản

 

Vài dữ kiện về Hội Kín Fabian

và Thợ Hồ Tự Do ỏ nước Nga

 

Nguồn tham khảo

Sự  Thai  Nghén  Ban  Đầu  của  Cái  Quái  Thai  Cộng  Sản

BĐQ Đỗ Như Quyên

 

Ngày 1.5.1776:

Một tu sĩ cũ của Dòng Tên, nguyên giáo sư dạy môn Giáo Luật (Canon Law) tại trường đại học Ingolstadt University ở tỉnh Bavaria thuộc đế quốc Phổ, ông Adam Weishaupt (7.2.1748- 18.11.1830) đã thành lập một hội kín có tên Sáng Tuệ (Illuminati, chữ này đồng nghĩa với chữ Alumbrados mà người sáng lập Dòng Tên là ông Inigo. L. O. Loyola trước kia đã dùng để lập một hột kín bên trong dòng tu đó). Hội kín Sáng Tuệ còn được biết dưới một tên khác là Toàn Bích (Perfectibilist, tuyệt hảo hoàn toàn, không tì vết, không khuyết điểm). Khi lập Hội Sáng Tuệ, ông này đã mang trong lòng một mối hận thù sâu thẳm đối với giáo hội Công Giáo nói chung, đối với những người chủ chăn của tòa thánh Vatican nói riêng, vì ông ta không thể tha thứ chuyện Giáo Hoàng Clement XIV ra lệnh giải tán Dòng Tên vào năm 1773. Hơn thế nữa, ông ta còn thề không đội trời chung với tất cả các triều đại vương quyền lúc đó, bởi đã dám coi các tu sĩ Dòng Tên như những kẻ thù. Để nói rõ lòng mình, ông Adam Weishaupt lấy bí danh Spartacus (? - 71 BC), là tên một người nô lệ làm nghề giác đấu (gladiator) từng bỏ trốn rồi mộ quân đánh với đế quốc La Mã gần 3 năm (từ 73 tới 71 trước lịch Tây). Hội Sáng Tuệ có một bản cương lĩnh hoạt động rất mới lạ, phải nói là rất hấp dẫn nếu so với hàng trăm hội kín khác đang hoạt động tại Âu Châu vào lúc ấy. Vì vậy hội của ông đã mau chóng thu hút nhiều người. Hội viên (bí mật) tăng lên ào ào, nhiều nhất là giới quý tộc hết thời, tu sĩ bị đuổi khỏi nhà thờ, giáo sư, triết gia, khoa học gia, chủ nhà băng, kỹ nghệ gia v.v và kể cả bọn du thủ du thực, đâm thuê chém mướn, bọn cơ hội, bọn sẵn sàng đi ám sát, khủng bố nếu được trả tiền.

Cương lĩnh chính yếu của Hội Sáng Tuệ có 6 điểm quan trọng như sau:

(1): Lật đổ hết tất cả các triều đại quân chủ trên toàn cầu. Trấn áp hết các hình thức chính phủ nào khác nếu có trong tương lai (Vô chính phủ).

(2): Tước bỏ quyền làm chủ đất đai và những gì có trên mặt đất của người dân (Vô tài sản, chống tư hữu).

(3): Bỏ luôn quyền thừa kế gia tài (Vô đạo đức).

(4): Cấm tiệt lòng yêu thương quê hương đất nước của riêng mình, xóa bỏ những khái niệm về quốc gia, dân tộc (Vô tổ quốc).

(5): Thiết lập một nền giáo dục chung cho trẻ em (tuyên truyền. Vô văn hóa), dẹp luôn sự tôn kính trong gia đình, cấm hẳn vấn đề lễ lạc, cưới hỏi (Vô gia đình).

(6): Xóa bỏ hết tất cả các thứ tín ngưỡng, tôn giáo đang có trên thế giới (Vô tôn giáo).

Biểu tượng của hội kín Sáng Tuệ là hình tam giác không có đỉnh nhọn, thay vào điểm đỉnh đó là con mắt tỏa sáng, nghĩa như trên cao thấy hết, biết hết tất cả.

(xin xem hình đính kèm, chú ý nơi cái tháp đá, hội kín Sáng Tuệ đã vẽ ra biểu tượng này, về sau hội kín ở Mỹ đã công khai lấy đưa vào tờ giấy bạc).

http://www.qsl.net/w5www/dollarbill.jpg

 

Tháp có 13 tầng (xin bạn đọc lưu ý đến con số 13, cũng như con số 9) đếm từ dưới lên, chi tiết này cho biết rằng đó là 13 đẳng cấp trong nội bộ của hội kín Sáng Tuệ.

Nếu đếm số đá trong tháp thì tổng số là 72 viên (kết số của 9). Đáy tháp rộng, càng lên cao càng nhỏ lần có nghĩa hội viên cấp thấp càng đông thì nền tảng của tổ chức càng vững chắc và không thể thấy hoặc biết những gì ở cấp cao hơn bên trên, và hội viên ở cấp cao hơn tuy ít nhưng là đầu não, nhìn xuống thấy hết tất cả mọi sự.

Ngay phía trên tháp là hình một con mắt mở lớn nằm trong một hình tam giác đang tỏa sáng, có nghĩa lãnh đạo tối cao thông suốt hết mọi sự nhưng công việc vẫn chưa hoàn tất. Hàng đá dưới cùng của tháp khắc 9 chữ số La Mã gồm: MDCCLXXVI (là con số 1776, năm lập hội kín Sáng Tuệ, cũng là năm chúng lập ra nước Mỹ với 13 tiểu bang, sẽ nói kỹ hơn ở trang kế tiếp). Phía trên tháp là hai hàng chữ la tinh có tổng số 13 chữ cái: ANNUIT COEPTIS, có nhiều nghĩa như: người khởi đầu mọi sự, sự tuyên bố, sự ra đời, sự kết tụ dũng cảm (của phe nhóm, bè đảng v.v)...nhưng cách hiểu đúng nhất là "Tuyên Bố Sự Ra Đời". Vòng quanh dưới tháp có hàng chữ la tinh: NOVUS ORDO SECLORUM, Trật Tự Mới Của Thời Đại (dịch qua tiếng Anh thì có đúng 13 chữ cái  là: New World Order, Trật Tự Mới Của Thế Giới). Bây giờ lại gom hết hai câu trên - dưới quanh cái tháp rồi dịch sang tiếng Anh sẽ có đúng 36 (9) chữ cái của câu:

ANNOUNCING THE BIRTH OF THE NEW WORLD ORDER, Tuyên Bố Sự Ra Đời Của Trật Tự

Mới Thế Giới. Dễ sợ chưa! "Qua Mỹ - Qủy Ma... nó đã sắp đặt trước hết cả rồi! Nhưng chưa hết đâu. Vẫn còn dài dài các mật mã trên hai mặt của tờ giấy bạc... nghĩa bạc -bạc... tình đó

(Xin tiết lộ thêm cho hai giới "Công-Nông" ở mấy nước "xã hội chủ nghĩa" biết thêm chuyện này: Các đảng cộng sản thường to mồm nói họ ăn mừng ngày lễ "Quốc Tế Lao Động" vào ngày 1 tháng 5. Thật ra chúng nó ăn mừng ngày sinh nhật "môn phái" chúng nó ra đời là hội kín Sáng Tuệ, ngày 1.5.1776 đó bà con ạ!)

Trong năm 1777: Ông Adam Weishaupt được Tổng Bộ hội kín Thợ Đá Tự Do (the Free Mason) ở thành phố Munich thuộc Phổ chính thức mời gia nhập, ông này được ưu ái trao ngay một vị trí rất cao trong hội kín này (chữ Free Mason còn được hiểu là Thợ Xây, Thợ Hồ Tự Do, nguồn gốc của hội xuất phát từ Ai Cập cách nay hơn 4.000 năm.

Gần 2.000 năm sau đó, đế quốc Hy Lạp xâm chiếm Ai Cập rồi thừa hưởng trọn vẹn các bí mật của hội này. Sau cùng, đế quốc La Mã chiếm gọn hết và vẫn duy trì sự hoạt động bí mật của hội kín này cho tới hôm nay. Bởi vậy xin bạn đọc khắp năm châu đừng ngạc nhiên khi thấy các công thự của "chú phỉnh"... à quên..."chính phủ" Mỹ xây ở thủ đô họ đều giống y chang các kiến trúc cổ của đế quốc La Mã. Riêng hai chữ "tổng bộ" và "chi bộ", chúng tội dịch từ chữ "grand lodge" và "lodge").

Kính thưa bạn đọc.

Để giúp cho quý vị mau chóng hiểu rõ hơn mục đích của bài biên khảo này. Chúng tôi tạm cắt ngang sự hoạt động tiếp ở các năm sau đó của hội kín Sáng Tuệ, tạm thời đưa bạn đọc vô ngay phần nói thêm các bí ẩn mà hội kín giấu trên tờ 1 đô la Mỹ. Qua phần này, các bạn sẽ thấy rõ hơn về chân tướng thật sự của "chính phủ" Mỹ, sẽ hiểu thấu đáo hơn về sự "khác nhau nhưng giống nhau" giữa quốc tế cộng sản (trước kia) và cộng sản quốc tế (hiện nay). Bên cạnh đó, ngưòi đọc cũng sẽ biết thêm phần nào "ai"mới là kẻ thực sự điều khiển chính trường quốc gia này. Thế sự đảo điên điên đảo, thấy vậy mà không phải vậy. Chúng tôi chỉ hy vọng vào sự nhận thức từ trái tim và khối óc của các bạn mà thôi.

Ngày 10.6.1782, Liên Bang Mỹ: Quốc hội nước này nhóm họp để chọn lựa và thông qua quyết định chọn quốc huy chính thức cho liên bang. Lợi dụng thời điểm này, có bốn người đề nghị nên chọn cái tháp và con mắt (của hội kín Sáng Tuệ) làm quốc huy phụ thứ hai. Bốn vị đó là các ông: John Adam (30.10.1735 - 4.7.1862), Đại Diện Ngoại Giao Liên Bang Mỹ tại Âu Châu (1778-1788, ông này trong bí mật là hội viên cao cấp của hội kín Thợ Đá Tự Do); Thomas Jefferson (13.4.1743 - 4.7.1826), cựu Thống Đốc tiểu bang Virginia (1779-1781, cũng thuộc hội Thợ Đá Tự Do); Benjamin Franklin (17.1.1706 - 17.4.1790), cựu Phó Tổng Quản Đốc Bưu Cục Thuộc Địa (thời còn Anh), Đại Diện Ngoại Giao Liên Bang Mỹ ở Âu Châu (1778-1780, hội Thợ Đá Tự Do); Alexander Hamilton (11.1.1757 - 12.7.1804), Đại Tá, Phụ Tá Tham Mưu cho Tổng Tư Lệnh Quân Đội Đại Lục (the Continental Army), hội Thợ Đá Tự Do (Tổng Tư Lịnh Quân Đội Đại Lục là ông George Washington (22.2.1732 - 14.12.1799), là một hội viên cao cấp của hội kín Thợ Đá Tự Do, sau thành tổng thống thứ nhất (1789 - 1797) của Liên Bang Mỹ).

Đại Quốc Huy Liên Bang Mỹ (the Great Seal of the United States of America) được "họa" ra bởi hai hội viên cao cấp của hội kín Thợ Đá Tự Do là ông Charles Thomson (29.11. 1792 - 16.8.1824) và ông William Barton (11.4.1754 - 21.10.1817). Ban đầu, quốc huy Mỹ là hình một chim Phượng Hoàng ngồi trên một cái tổ rực lửa. Ở phía trên đầu chim có 13 ngôi sao (đừng tưởng bở như họ nói là biểu tượng của 13 tiểu bang buổi đầu, lúc đó họ có thể chia đất lập ra 12, 14, hoặc 15 tiểu bang cũng được. Hà cớ chi lại cứ phải là 13? Thật ra con số 13 là con số "thiêng liêng" nhất của hai hội kín Sáng Tuệ và Thợ Đá Tự Do. Ở đâu có hai hội này hoạt động thì nơi đó sẽ có con số 13 xuất hiện, chúng tôi sẽ nói rõ thêm về con số này ở phần khác). Cái mỏ của chim Phượng Hoàng nêu trên ngậm một tua vải xòe ra hai bên, trên vải có hàng chữ la tinh gồm 13 chữ cái ghi câu: E PLURIBUS UNUM (Một Trong Sự Nhiều hoặc Nhiều Trong Sự Một, nghĩa của nó là "dù trên thế giới có nhiều quốc gia, nhưng rồi tất cả sẽ quy tụ thành một quốc gia duy nhất trên thế giới, hay dù là một quốc gia duy nhất trên toàn cầu thì bên trong của nó vẫn có những quốc gia khác". Tức là quyền lực tuyệt đối sẽ được gom về một mối, về tay siêu hội kín, siêu quyền lực đó mà ! Đó là ước mơ mà đế quốc La Mã ngày xưa chưa làm được). Phía trước ngực của chim là một tấm khiên bằng sắt, nghĩa là sự che chắn, che đậy sự bí mật ở phía sau và bên trong (nội bộ), tấm khiên đó có 13 vạch nằm ngang nếu đếm luông vạch bìa (xem hình chim trên tờ 1 đô la), Phía dưới có 7 vạch thẳng đứng màu trắng và 6 vạch có sọc nhỏ bên trong (6 + 7 = 13), và nếu đếm hết 3 vạch nhỏ hơn nằm trong 6 vạch thẳng đó thì sẽ có con số chung là 3 X 6 =18 (9).

Hai chân chim, một bên nắm 13 mũi tên, một bên nắm nhánh mọng (berry) có đúng 13 chiếc lá và 13 quả mọng nằm xen kẽ với nhau (tiếng lóng của dân Mỹ gọi tiền đô là "berry”), phần dưới của chim có 9 cái lông đuôi.

Ngày 15.9.1789: Quốc hội Mỹ thuận thông qua bản "hiến pháp". Trong dịp này họ cũng chấp nhận lấy luôn cái tháp với con mắt (của hội kín Sáng Tuệ) làm quốc huy phụ thứ hai. Tới năm 1841, họ vịn cớ rằng dân Mỹ cứ nhạo báng cái quốc huy của Mỹ nhìn giống con gà tây (turkey) đang bị nướng hơn là chim Phượng Hoàng, quốc hội lại họp rồi quyết định cho họa sĩ vẽ con chim ó thế hình con "gà tây" đó (thực ra chim ó, hay đại bàng chính là biểu tượng của đế quốc La Mã). Sau rốt, hình con chim ó được "họa" xong, đầu nó chỉ có một mắt và nhìn về phía không có trái tim (vô tâm, bất nhân, bất nghĩa và bội phản).

Năm 1934: Ông Henry Agard Wallace (7.10.1888 - 18.11.1965), nguyên hội viên cao cấp của hội kín Thợ Đá Tự Do kiêm...Bộ Trưởng Nông Nghiệp, "yêu cầu" Tổng Thống Franklin Delano Roosevelt (30.1.1882 - 12.4.1945, hội viên cao cấp Thợ Đá Tự Do) cho phép Bộ Trưởng Ngân Khố, ông Henry Morgenthau, Jr (11.5.1891 - 6.2.1967) được in cả hai cái quốc huy đó (của hội kín) vào tờ giấy 1 đô la! Sau khi được tổng thống cho phép, ông bộ trưởng H. Morgenthau (cũng thuộc hội kín nốt) cho làm ngay...và dĩ nhiên cũng không quên đưa thêm "mật hiệu" của hội kín vào tờ giấy 1 đô như: Hai vòng tròn lớn của hai quốc huy, ở giữa ngoài rìa của hai cái có hai chuỗi hạt, mổi cái có đúng 13 hạt nằm ngang. Ở trên chính giữa tờ giấy có 12 chử cái: IN GOD WE TRUST, Chúng Ta Tin Nơi Thượng Đế, nhưng ngay dưới hàng chữ đó lại có chữ ONE (1) thật lớn, nghĩa rằng 12+1= là 13 đó bà con ạ (quả là buôn bán trời...có văn tự đàng hoàng)! Ở phía dưới lại có 9 chữ cái khá lớn: ONE DOLLAR. Còn gì nữa? Vẫn còn nhiều lắm! Nếu ai chịu khó đếm hết tất cả những mẫu tự nằm trong hai quốc huy đó, sẽ đếm được 72 chữ, cũng là 9..nút (A N N U I T   C OE P T I S   N O V U S   O R D O   S E C L O R U M   T H E  G R E A T S E A L (hình cái tháp)  E   P L U R I B U S   U N U M   O F   T H E   U N I T E D   S T A T E S (bên hình chim)... và nếu cố gắng tính luôn hàng chữ số La Mã dưới chân tháp, sẽ có tổng số  mẫu tự là… 81 chữ (9). Lật qua phía bên kia tờ 1 đô, nếu bỏ công đếm hết số lá và quả mọng nơi hai bìa và hai góc dưới hình ông George. W, sẽ có được con số 54 (9).

Ngay ở trên cùng, có hàng chữ thập thò... lấp ló với 18 (9) chữ cái là: FEDERAL RESERVE NOTE, Biên Nhận Lưu Dụng Liên Bang, xin lập lại lần nữa: "Biên Nhận Lưu Dụng Liên Bang" (cũng có thể gọi là "Phiếu Tư Dụng Liên Bang"). Còn cái gọi là Federal Reserve mà có ai đó dịch rằng: "Qũy Dự Trữ Liên Bang" thì người đó học quá thuộc bài qua lối chơi chữ của... hội kín rồi đó! Vì lẽ Liên Bang Mỹ chẳng có cái quỹ nào dự trữ tiền cả bởi hiến pháp nước Mỹ cấm chính phủ lập ngân hàng và làm chủ tiền bạc. Nếu có, tại sao chính quyền Mỹ không in luôn mấy chữ "money" hoặc "currency" lên tờ giấy bạc của họ mà lại ghi là "note"?  Thật ra, trong lịch sử nước Mỹ đã có người muốn chính phủ có tiền riêng để điều ổn kinh tế quốc gia. Nhưng người đó đã bị "siêu quyền lực" qua tay hội kín bắn chết ngay, đó là vị tổng thống thứ 16 của Liên Bang Mỹ là ông Abraham Lincoln (12.2.1809 - 15.4.1865). Những tờ giấy màu xanh mà ai cũng tưởng là tiền "tệ" (hại) của Mỹ thật ra nó có mặt "bất hợp pháp" vì vi hiến. 

Ngày 23.12.1913, giới chủ ngân hàng (tức siêu tài phiệt, hội kín) sau nhiều cuộc họp bí mật, kể cả họp ngoài đảo, đã lợi dụng lúc hơn một nữa nghị sĩ, dân biểu đang nghỉ lễ cuối năm (giáng sinh), họ đã vận động phần còn lại của quốc hội (mà hầu hết là phe của họ) tổ chức hội họp và gấp rút ký thông qua Đạo Luật Lưu Dụng Liên Bang (Federal Reserve Act) vào ngày tháng nêu trên. Đạo luật ký kiểu "chạy tang" đó cho phép chính phủ được quyền nắm giữ của ngân hàng tư nhân một số  VÀNG thế chân, và chấp thuận cho họ được quyền lập ra một hệ thống điều hành, kiểm soát vấn đề tài chánh quốc gia, hệ thống đó gồm toàn các "ngân hàng hội viên" (member banks) với nhau và chính phủ chớ dự vào. Nói trắng ra, vì có giữ vàng thế chân (do cái luật vi hiến nêu trên) của tư nhân, nên chính phủ mới cho in cái "giấy biên nhận" là có giữ vàng của họ nhưng không dám nói toạc ra vì vi hiến. Còn cái tờ giấy gọi là "note" đó, nó có giá trị lưu hành dưới sự bảo đảm của chính phủ. Ai có bao nhiêu cũng được, giữ bao lâu cũng được, muốn trao đổi (mua-bán) bất cứ cái gì cũng được nên mới gọi là "lưu dụng" hoặc "tư dụng" (reserve).  Còn cái chữ "Federal" ăn có được in trên cái "biên lai giữ vàng" đó là do tài phiệt láu cá in vô nhằm mập mờ đánh lận con đen và nó chẳng có dính dáng chi tới Liên Bang Mỹ cả! Xứ "tự do" phát biểu mà! Ví dụ như ai đó có cái "mặt nạ", họ có quyền gọi đó là "Federal Mask" cũng không sao! Bởi thế nên mới có chuyện ngược đời: Chính phủ của một nước "hùng cường" như Mỹ mà "nợ như chúa Chổm" với các ngân hàng tư).

Trở lại với hai đại quốc huy của Mỹ. Chúng tôi xin được nói rõ hơn về vấn đề này vì ngay từ đầu, những người thiết kế nên cấu trúc của chính phủ Mỹ đã cố tính nhắn gởi đến công chúng những thông điệp quan trọng, được sắp đặt có chủ đích trong hai quốc huy đó.

Ngay trong ngày bản "Tuyên Ngôn Độc Lập" được công bố, 4.7.1776, Quốc Hội Đại Lục (Continental Congress) đã chỉ định một ủy ban gồm ba người chịu trách nhiệm việc chọn đại quốc huy của Mỹ, đó là các ông John Adams; Thomas Jefferson và Benjamin Franflin. Cả ba vị này đều là hội viên của hội kín Free Mason, đại quốc huy thứ nhất được họ đưa ra có khắc cảnh ông Moses dắt dân Do Thái vượt qua Biển Hồng (Hồng Hải) và đoàn quân Ai Cập đang chống chỏi trước sóng nước dâng cao.

 Vòng quanh quốc huy này có hàng chữ:

"REBELLION TO TYRANTS  IS  OBEDIENCE  TO  GOD" (Chống Lại Bạo Chúa Là Làm Theo Lời Thượng Đế). Nhưng chỉ sáu năm sau, có lẽ thấy được sự lộ liễu quá đáng vì hình ảnh Do Thái nằm ngay trên quốc huy, quốc hội lại nhóm họp vào ngày 10.6.1782 để chọn mẫu quốc huy mới, tới ngày 20. 6. 1782 thì mới có quyết định cuối cùng như đã kể ở trên (cùng với sự chấp thuận quốc huy phụ thứ hai là hình tháp và con mắt của hội kín Sáng Tuệ). Tuy nhiên, những người đưa ra mẫu mới vẫn cố tình sắp đặt 13 ngôi sao trên đầu chim là hai hình tam giác đối nghịch. Nếu vạch những đường thẳng thì sẽ thấy hình một ngôi sao có sáu góc (ngôi sao David, trên cờ Do Thái ngày nay). Ngôi sao này còn được biết là dấu hiệu của một hội kín thờ Satan tức hội Sáng Tuệ. Sáu cạnh, sáu mặt phẳng, sáu chi tiết chính trong đại quốc huy (chim, bó tên, nhánh lá, tấm khiên, tua vải, hình tròn trên đầu chim) là sự nhấn mạnh đến ba con số 666, một con số mà các nhà tiên tri cho rằng thuộc về kẻ chống lại thượng đế trong cuộc chiến sắp đến giữa "thiện, ác và ngày tận thế". Đọc tới đây có thể bạn đọc đã thấy rõ ai mới là người làm chủ nước Mỹ từ những ngày đầu lập quốc. Và qua đó cũng thấy được "bạo chúa" mà họ chống lại không phải là đế quốc Anh, mà Vatican mới là thế lực mà họ tuyên chiến. Thực tế cho thấy suốt chiều dài lịch sử của Liên Bang Mỹ, hầu hết các tổng thống đều theo giáo phái Cải Cách (tức đạo Tin Lành), duy nhất chỉ có một người theo đạo Thiên Chúa Giáo là Tổng Thống John F. Kennedy (29.5.1917 - 22.11.1963), và cuộc đời vị tổng thống này kết thúc ra sao bạn đọc cũng đã tỏ tường. 

Nổi bật hơn hết trong số tổng thống Mỹ có liên đới đến nhiều hội kín nhất chính là vị tổng thống thứ 42, William Jefferson "Bill" Clinton (tên cúng cơm William Jefferson Blythe III, 19. 8. 1946). Ông này tham gia Ủy Hội Tam Điểm (the Trilateral Commission); Hội Đồng Về Các Quan Hệ Đối Ngoại (the Council on Foreign Relations, CFR) và hội kín Bilderbergers (hội này chưa ai biết được tên thật là gì, những người nghiên cứu tạm gọi Bilderbergers vì đó là tên một khách sạn ở Oosterbeek, Hoà Lan, nơi công chúng khám phá ra một cuộc họp bí mật của hội vào năm 1954. Vợ của "Bill" Clinton cũng là hội viên CFR và Bilderbergers).

 Ngoài ra bố con cựu tổng thống George H.W. Bush cũng thuộc các hội Tam Điểm và CFR, riêng ông con còn là là hội viên Dòng Hội Xương và Sọ (the Order of Skull and Bones).  Riêng ở cấp bộ trưởng, đại sứ, giám đốc v.v thì từ các ông như

Henry Cabot Lodge, Jr (5.7.1902 - 27.2.1985);

Henry Alfred Kissinger;

Robert Strange McNamara (9.6.1916 - 6.7. 2009)

cho tới anh em nhà

John Foster Dulles (25.2. 1888 - 25.5.1959);

Allen Dulles (7.4.1893 - 29.1.1969);

Dean David Rusk (9.2.1909 - 20.12.1994);

Conein E. Lucien (29.11.1919 - 3.6.1998),

anh em nhà

Edward Rolan Noel Harriman (24.12.1895 - 16.2.1978);

William Averell Harriman (15.11.1981 - 26.7.1986) v.v…

tất cả đều là hội viên của hội kín. Có tới 95% trong tổng số tổng thống Mỹ, 99,9% các bộ trưởng ngoại giao, quốc phòng, giám đốc CIA; FBI đều nằm trong hội kín.

Trong tổng số 56 người ký vào bản Tuyên Ngôn Độc Lập (ngày 7.6.1776) thì 53 người là hội viên hội kín (một tài liệu khác cho biết chỉ có một người).

Riêng về Vương Quốc Anh thì 100% những thủ tướng đều thuộc hội kín (Anh cũng là nơi đặt "tổng hành dinh" của hội kín toàn cầu). 

Ông Winston Leonard Spencer Churchill (30.11.1847 - 24.1.1965) là một hội viên hội kín thuộc hạng "gộc", là một trong vài người hiếm hoi được hội kín thời hiện đại tôn vinh nhiều nhất vì có công trong việc dàn dựng nên Đệ Nhất Thế Chiến (1914-1918); Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945); cuộc "cách mạng vô sản" ở Nga (1917); Chiến Tranh Đại Hàn (1950-1953) và Chiến Tranh Việt Nam (gồm hai giai đoạn, từ 1945 đến 1975).

Vào ngày 8.2. 1920, tờ báo Illustrated Sunday Herald (ở Anh) cho đăng một bài viết của ông ta, trong đó có những lời lẽ như sau:

..."From the days of Spartacus - (Adam) Weishaupt to those of Karl Marx; Trotsky... this... world - wide conspiracy for the overthrow of civilization... has been steadily growing"... (tạm dịch: "Từ những ngày của Spartacus - (Adam) Weihaupt cho tới Karl Marx; Trotsky.. âm mưu... toàn cầu nhằm lật đổ (các nền) văn minh (nhân loại)... đang lớn mạnh một cách vững vàng"...).

Quả là có "nằm trong chăn mới biết chăn có rận", âm mưu này đã có và được sắp đặt từ thời đế quốc La Mã, mộng làm bá chủ toàn cầu của phương Tây. 

Vào ngày 23.9.1950, một nghị sĩ Mỹ là ông Joseph Raymond McCarthy (14.11.1908 - 2.5.1957) đã tố cáo trước quốc hội về âm mưu của ba "lãnh tụ" Nga; Anh; Mỹ tại Hội Nghị Yalta (từ 4.2. tới 11.2.1945, ở bán đảo Crimea của Ukraine). 

Trong hội nghị này, ba ông "Churchill; Stalin; Roosevelt" đã bí mật chia trước đất đai thế giới sau khi chiến tranh kết thúc: phần Đông - Âu Châu sẽ thuộc cộng sản Nga, phần Trung- Đông- Á Châu và Ấn Độ Dương giao cho Anh, toàn vùng Thái Bình Dương và Đông- Nam Á Châu sẽ thuộc về Mỹ. 

Ông nghị sĩ này còn kết án họ đã bí mật bàn thảo trước cho các cuộc chiến tranh sắp tới, nguyên văn:

..."Here (Yalta) was signed the death warrant of the young men who are dying today in the hills and valleys of Korea.... Here was signed the death warrant of the young men who will die tomorrow in the jungles of Indochina"... (..."Nơi đây (Yalta) đã ký giấy báo tử cho những người trai trẻ hôm nay đang gục ngã tại các ngọn đồi và thung lũng của Đại Hàn... Nơi đây đã ký giấy báo tử cho những người trẻ khác mà ngày mai sẽ chết trong rừng sâu của vùng Đông Pháp"...). 

Một nhân vật khác cũng được hội kín tôn vinh hết mực là vị tổng thống thứ 32 của Mỹ, ông Franklin Delano Roosevelt (30.1.1882 - 12.4.1945). Vào ngày 23.11.1933, ngay sau khi biết tin mình "được bầu" làm tổng thống, ông ta viết thơ cho một ông trùm hội kín từng làm đại tá, kiêm "cố vấn" cho ba đời tổng thống là ông Edward Mandell House (26.7.1858 - 28.3.1938, từng làm "cố vấn" cho tổng thống thứ 28 Woodrow Wilson (29.12.1856 - 3.2.1924), là người đã âm mưu với W. Churchill dàn dựng nên Thế Chiến 1 và "cách mạng vô sản" ở Nga). 

Tổng thống F. D. Roosevelt viết thư thế này:

..." The real truth of the matter is: as you and I know, that a financial element in the large centers has owned the government ever since the days of Andrew Jackson"... ("Sự thật rõ ràng của tình thế là, ông cũng biết như tôi, một cơ cấu tài chánh ở một trung tâm bao quát đã làm chủ chính phủ này kể từ thời Andrew Jackson"(15.3.1767 - 8.6.1845, vị tổng thống thứ 7). 

Khi Thế Chiến Thứ 2 vừa xảy ra, ông F.D. Roosevelt đã "phán" một câu làm dân Mỹ nổi da gà:

...."In politics, nothing happens by accident. If it happens, you can bet it was planned that way"... (Trong chính trị, chẳng có gì xảy ra ngẫu nhiên. Nếu nó xảy ra, bạn cứ tin chắc nó được sắp đặt như thế). 

Chưa hết, trong một lần khác ông ta "tuyên bố" một câu cũng làm dân Mỹ dựng tóc gáy:

..."I do not believe in communism any more than you do but there is nothing wrong with the communist in this country, several of the best friend I have got are communists" ("Tôi chẳng còn tin chủ nghĩa cộng sản cũng như bạn nhưng thấy không có gì sai với người cộng sản trên đất nước này (Mỹ), vài người bạn thân nhất mà tôi quen đều là những người cộng sản" (Hồ Sơ Lưu Quốc Hội ngày 22.9.1950, trang A 6832).

Kính thưa bạn đọc.

Nói tóm lại, tất cả những nhân vật (Âu và Mỹ) mà lâu nay dư luận cho là "xuất chúng", là "lỗi lạc", là "có công lớn đối với nhân loại" trong các lĩnh vực, chính trị, quân sự, ngoại giao, tài chánh v.v… thật ra họ chẳng có gì gọi là tài giỏi, là anh hùng chi cả. Họ cũng chỉ là những người bình thường. Nếu có khác thì họ là những kẻ lọt vô các hội kín, được tổ chức đó đưa vào nắm giữ những chức vụ then chốt trong các chính phủ.

Nhờ có chân trong, chân ngoài nên họ biết trước các kế hoạch mà hội kín (siêu quyền lực, nói chung) đã thiết kế và sẽ có những dự định như thế nào.

Họ chỉ là người thừa hành, có quyết định hoặc tuyên bố này nọ nhờ đã biết trước và nhận chỉ thị phải nói, phải làm như kế hoạch mà hội kín đã hoạch định mà thôi (anh hùng tận là như vậy). Trong bóng tối họ dàn dựng nên các xáo trộn khắp năm châu, ngoài ánh sáng họ cử người của họ (khóac áo chính khách) đi dàn xếp "hoà bình" với mục đích có lợi nhất cho thế lực trong bóng tối. 

Tiếc thay, thủ đoạn này của hội kín quá cao siêu nên nhân loại từ người nghèo khổ, thiếu học cho đến tầng lớp trí thức, khoa bảng, lãnh đạo tôn giáo v.v đều bị lầm dài dài nên xã hội cứ triền miên trong khổ loạn.  

Cho dù có người biết được sự thật, nếu nói ra thì sẽ gặp những cái chết bí ẩn, may mắn còn sống thì cuộc đời họ sẽ rất khốn đốn trong công ăn việc làm. Nhưng phần lớn trí thức, khoa bảng, học giả v.v lại không can đảm nói ra dù đã biết phần nào sự thật. Họ vì tiếc nuối công lao ăn học, vì danh vọng mời chào, vì quyền lợi vật chất cám dỗ, vì sợ chết hoặc phải sống trong lo âu nên họ đành chấp nhận tiếp tay với sự dữ, kéo dài sự sống no đủ của bản thân trên nỗi khổ đau chung của nhân loại. 

Trường hợp của hai nhân vật W. Churchill và F. Roosevelt cũng thế mà thôi, chẳng là "anh hùng, xuất chúng" gì hết!  Ông W. Churchill được hội kín đưa vào ghế thủ tướng nước Anh hai lần (1940 - 1945 và 1951 - 1955) cũng do kế hoạch "phát động chiến tranh và tái thiết sau chiến tranh" của hội kín. Ông F. Roosevelt cũng được họ xử dụng như vậy, được hội kín giữ yên trên ghế tổng thống hơn ba nhiệm kỳ (1933- 1945), lâu như vậy vì họ không muốn âm mưu của họ bị trắc trở.  Kế hoạch đó là gì? 

(1) Là tàn phá tối đa Âu Châu và Á Châu già nua bằng bom đạn, sau này họ sẽ bỏ tiền ra xây dựng lại qua hình thức viện trợ, vay mượn v.v… để buộc các quốc gia khốn khổ đó phải đi vào vòng ảnh hưởng của họ.

(2) Làm kiệt quệ ý chí quật cường của người dân thuộc các chế độ cộng sản sau này.

(3) Làm trì trệ, chậm lại tốc độ phản công của "đồng minh" để chờ cộng sản Nga chiếm đủ số đất đã phân chia, đồng thời gia tăng mức độ viện trợ kỹ thuật quân sự, khoa học cho Nga nhằm giúp nước cộng sản này có đủ điều kiện trở thành một cường quốc quân sự, biến thành một đối cực với Âu Mỹ, hội kín ở giữa sẽ thủ đắc tất cả vì các nước nhỏ sẽ cần sự "bảo vệ" của họ, nghĩa là chịu mua vũ khí và chấp nhận viện trợ có ràng buộc của họ.

Ngày 25.6.1942, hai "vĩ nhân" nói trên đã âm mưu với nhau khi hoãn lại kế hoạch đổ quân lên lục địa Âu Châu trong năm 1943 qua năm 1944, mục đích là chờ cộng sản Nga soạn xong bản kế hoạch về lâu dài sẽ cai trị vùng Đông- Âu Châu như thế nào. 

Sau ngày ông Charles Andre Joseph Marie de Gaulle (23.11.1890 - 9.11.1970) theo chân "đồng minh" tiến vào thủ đô Ba Lê ngày 26.8.1944, lực lượng quân sự thuộc Quân Đoàn 7 của Mỹ được lệnh phải "thong thả" tiến quân vào lãnh thổ Đức cũng như thủ đô Bá Linh, họ phải chờ để Hồng Quân Nga tiến vô trước cho đúng với kế hoạch mà hội kín đã vạch ra. 

Ở Phía Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn 3 của Mỹ (thiết giáp là chính), Trung Tướng George Smith Patton, Jr (11.11.1885 - 21.12.1945) cũng nhận được lệnh quái gở đó, nhưng ông vẫn phớt lờ và tung ra nhiều cánh quân thiết giáp tiến ào ạt với ý định chiếm toàn vùng Tiệp Khắc. Tuy nhiên lệnh từ cấp cao hơn buộc ông phải ngưng lại, nhường vùng đất đó cho quân Nga đến chiếm đóng! Lệnh ấy được đưa xuống bởi hai hội viên cao cấp của hội kín, ... kiêm... Thống Tướng Tổng Tư Lịnh Quân Đội Đồng Minh là ông Dwight David Eisen-hower (14.10.1890 - 28.3.1969) và ông George Catlett Marshall (31.12.1880 - 16.10.1959), Đại Tướng Tư Lệnh Quân Đội Mỹ ở Âu Châu (người sau đó là Bộ Trưởng Ngoại Giao của Mỹ (1947-1949) rồi nắm toàn quyền kế hoạch tái thiết Âu Châu của hội kín.

Chưa hết, để chắc ăn và kiếm lời nhiều hơn, hội kín đã trao ông ta chức Bộ Trưởng Quốc Phòng (1950-1951), tới năm 1953, tổ chức "ngụy văn hóa" của hội kín ở Thụy Điển còn trân tráo tặng ông ta gỉải "Nobel Hoà Bình" (hệt như Henry A. Kissinger sau này).

Tin tức về lệnh nhường đất cho "đồng minh" Nga Sô đã gây một cú sốc và lắm bất bình cho quân đội Mỹ vào lúc đó. Hơn nữa, sự kiện này còn làm chấn động cả chính trường nước Mỹ nên sự vụ bị đem ra điều tra trước quốc hội.

Trong tháng 7.1948, sau khi kết tội giới tướng lãnh cao cấp đã âm mưu tiếp tay với cộng sản trên chiến trường Âu Châu, nghị sĩ Joseph Raymond McCarthy đã nói một câu ngắn sau đây mà chúng tôi xin ghi lại nguyên văn để bạn đọc nhìn rõ hơn bộ mặt thật của hai nước Anh và Mỹ:

..."We now come to what was without question the most significant decision of the war in Europe: The decision by Marshall to concentrate on France and leave the whole of Eastern Europe to the Red Armies"... (Chúng ta bây giờ đã tới chỗ chẳng cần đặt câu hỏi về quyết định trọng đại nhất của cuộc chiến tại Âu Châu...: Quyết định của (tướng) Marshall là nhằm cô lập nước Pháp và dành toàn vùng Đông Âu cho Đoàn Quân Đỏ").

 Cả hai "vĩ nhân" tiêu biểu nêu trên cũng như những "tai to mặt lớn" lớn khác của chính trường Âu-Mỹ, phần đông là hội viên của các hội kín như Sáng Tuệ; Tam Điểm; Thợ Đá Tự Do; Xương và Sọ; Hội Đồng Về Các Quan Hệ Đối Ngoại- CFR v.v.. và v.v...

Và cũng chính họ, trước khi Thế Chiến 2 chấm dứt, đã dàn dựng nên hai cuộc chiến thảm khốc trên quê hương Việt Nam chúng ta với sự thông đồng tiếp tay của Nguyễn Sinh Cung (198 ? - 2.9.1969, tức Nguyễn Tất Thành; Hồ Chí Minh sau này), kéo dài từ 1945 đến 1975 và tới nay 2012 vẫn chưa thực sự kết thúc (ông HCM cũng là hội viên Tam Điểm, chúng tôi sẽ nói thêm ở một trang khác).

Ngày 13.9.1945:

Quân đội Anh đưa quân đến Sài Gòn để giải giới quân đội Nhật Bản (đã đầu hàng từ ngày 14.8.1945) theo quyết định của "Hội Nghị" Potsdam, tổ chức gần Bá Linh, Đức từ ngày 16.7. tới 2.8.1945, riêng miền Bắc thì trách nhiệm giải giới giao cho Quân Đội Trung Hoa Dân Quốc.

Không phải ngẫu nhiên mà "hội nghị" đó lại chọn quân đội Anh vào miền Nam bày trò "giải giới", dù ở xa tắp tận Ấn Độ. Lúc đó Mỹ có binh lực ở Phi Luật Tân, ở đảo Guam v.v là các nơi rất gần nhưng Mỹ phải tránh mặt vì đây là giai đoạn đầu của âm mưu ma quỷ. 

Họ đưa quân Anh đến đó chỉ với mục đích gây xáo trộn, tạo thêm căng thẳng, kích thích lòng cuồng nhiệt của người dân, giúp phe cộng sản của ông Hồ có điều kiện đẩy mạnh các hoạt động và chắc chắn dân chúng sẽ tham gia vào lực lượng của ông ta để hình thành dần dần một quân đội sau này. Lực lượng đó sẽ trở thành một đối trọng mà Pháp rồi Mỹ mới có cớ đem quân vào tham chiến.

Lực lượng quân sự của Anh đến miền Nam Việt Nam đông vào khoảng 26.000 người, phần lớn các chiến binh thuộc nhiều sắc dân của Ấn Độ, lính gốc người Anh chỉ có khoảng 1.400 tay súng. Lực lượng này gồm: Sư Đoàn 20 Bộ Binh; Thiết Đoàn 16 Thiết Vận Xa, hai phi đội máy bay khu trục và vận tải, ba khu trục hạm hạng trung v.v đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng Douglas D. Gracey (1894 - 1964), một hội viên cao cấp của Thợ Đá Tự DoỦy Hội Tam Điểm thuộc Tổng Bộ Luân Đôn. 

Ngày 17.9.1945, lấy cớ rằng lực lượng giải giới cần có sự an ninh, cần hạn chế số vũ khí thất thoát vào tay dân và để dễ dàng hơn trong việc tập trung binh lính Nhật vào một chỗ, tướng D. D. Gracey ra lệnh cho dân chúng Sài Gòn phải giao nộp tất cả vũ khí cho lực lượng của ông ta. Vậy là làn sóng bất bình bắt đầu nổi lên. 

Ngày 21.9.1945, nhận thấy dân chúng không chấp nhận lệnh này cũng như sự hỗn loạn bắt đầu xảy ra, viên tướng Anh này đã chọc giận thêm dân chúng khi trả tự do và trang bị vũ khí cho khoảng 200 tù binh Nhật, để họ tự do đi khắp Sài Gòn dán Bản Tuyên Cáo Số 1 của ông ta với những điều như sau:

Thiết Quân Luật không những ở Sài Gòn mà còn trên toàn miền Nam- Việt Nam.  Cấm dân chúng không được tự võ trang. Cấm không được mang vũ khí ngoài đường. Cấm tụ tập đông người tại những nơi công cộng v.v. Sự uất ức của dân chúng tăng cao thêm qua bản tuyên cáo này. 

Ngày 22.9.1945

Tướng D.D. Gracey lại châm thêm dầu vô lửa khi cho phát súng đạn vào tay khoảng 1.700. người dân Pháp ở Sài Gòn.

Ngày 23.9.1945, ông tướng này lại cho lệnh hơn 3.000 lính của ông ta, gần 2.000 dân Pháp có vũ khí, hơn 600 tù binh Nhật Bản được võ trang tỏa ra khắp Sài Gòn để tấn công, đập phá các văn phòng Ủy Ban Kháng Chiến (của dân lập ra, không phải của cán bộ cộng sản), đập nát những trạm gác do dân chúng dựng lên nhằm canh chừng sự trở lại của Pháp.

Ngày 26.9.1945

Lúc 10 giờ tối, nhằm tăng thêm sự phẫn nộ của dân chúng, tướng D.D. Gracey cho thả thêm hơn 1.000 tù binh Nhật và phát súng đạn cho họ, những tù binh này được tăng cường cho lực lượng trước đó để cùng nhận lệnh tung ra một cuộc càn quét quy mô khắp đường phố Sài Gòn.

Vậy là làn sóng cuồng nộ của dân chúng nổ bùng ra khi ước mơ được Độc Lập của dân tộc bị tước đoạt bởi chính "đồng minh". Người dân không còn sự chọn lựa nào khác bằng con đường chiến đấu....và tổ chức Việt Minh là nơi họ chấp nhận đứng vào hàng ngũ, rất ít người biết tổ chức đó đã bị cộng sản cướp quyền lãnh đạo.

Chỉ thời gian ngắn sau đó, những người hiểu biết thì thấy được bàn tay cộng sản trong tổ chức Việt Minh nên đã thoái lui, nhưng đó là một con số rất nhỏ. Phần đông vẫn ở lại tiếp tục chiến đấu vì lòng yêu nước, và họ đã vô tình trở thành vật hy sinh lót đường cho "quốc tế cộng sản và cộng sản quốc tế" trong âm mưu gây chiến, thôn tính toàn lãnh thổ nước Việt Nam và toàn thế giới trong tương lai.

Nhìn lại các hành vi của viên tướng Douglas D. Gracey, chúng ta mới thấy sự vi phạm trắng trợn của ông này nói riêng, của hai chính phủ Anh và Mỹ nói chung, đối với cơ hội được Độc Lập cho Việt Nam trước cơn ác mộng xiềng xích thực dân của Pháp. Viên tướng này chỉ là người được ủy nhiệm đến để giải giới quân đội Nhật Bản. Ông ta chỉ nên làm công việc đó, còn những vấn đề khác xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam là thuộc quyền của người dân, ông ta không được phép xen vào....trừ khi đó là âm mưu, thủ đoạn của hội kín mà Anh và Mỹ là hai đầu sỏ dàn dựng nên tất cả.

Xa tít tận thủ đô Đông Kinh của một nước Nhật bại trận, Tư Lệnh Đồng Minh ở Á Châu- Thái Bình Dương là Đại Tướng Douglas MacArthur (26.1.1880 - 5.4.1964) khi biết tin về những gì xảy ra ở Sài Gòn, ông đã lớn tiếng chửi thề và nói ra những lời nhận xét xác đáng trong tư cách của một người lính, nguyên văn:

 ..." If there is anything that makes my blood boil, it is to see our allies (English) in Indochina deploying Japanese troops to reconquer the people we promised to liberrate. It is the most ignoble kind of betrayal" … ("Nếu có chuyện gì đó làm tôi phải sôi máu lên, là chuyện nhìn đồng minh của mình đã huy động lính Nhật đi chinh phục lại những người mà chúng ta đã hứa giải thoát họ. Đó là một loại phản bội hèn hạ nhất".., (The Viet Nam Experience, cuốn Passing the Torch, trang 17). 

Hơn 18 năm sau, vào tháng 11.1963 hội kín lại qua tay chính phủ Mỹ sát hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm (3.1.1901 - 2.11.1963) và ông Ngô Đình Nhu (7.10.1910 - 2.11.1963), cũng như làm lơ để ông Ngô Đình Cẩn (1912- 9.5.1964) bị đem ra xử bắn.

Trước đó vào ngày 30.10.1963, lúc biết kế hoạch đảo chánh và giết luôn anh em ông N.Đ.Diệm của chính phủ Mỹ đã sẵn sàng qua sự trực tiếp giám sát của Đại Sứ Henry Cabot Lodge, Đại Tướng Paul D. Harkins (15.5.1904 - 21.8.1984), Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Yểm Trợ Quân Sự - Việt Nam (Military Assistance Command - Viet Nam, MAC-VN) đã gởi một công điện về cho Chủ Tịch Tham Mưu Liên Quân là Đại Tướng Maxwell Davenport Taylor (26.8.1901 - 19.4.1987), bức công điện đã có những lời lẽ trách móc như sau:

..."After all, rightly or wrongly, we have backed Diem for eight long hard years. To me it seems incongruous now to get him down, kick him around and get rid of him. The U.S has been his mother superior and father confessor since he's been in office and he has leaned on us heavily. Leaders of other under - developed countries will take a dim view of our assistance if they too were led to believe the same fate lies in store for them" ...("Cuối cùng thì, dù đúng hay sai, chúng ta cũng đã giúp Diệm suốt tám năm dài đầy khó nhọc. Đối với tôi, thật chẳng có đạo nghĩa chút nào bởi bây giờ chúng ta đang hạ nhục ông ta, hành hạ đủ điều rồi bỏ rơi ông ấy. Nước Mỹ như là song thân kể tội và kiêu căng từ lúc ông ta đảm trách công việc và đã dựa vào chúng ta khá nhiều. Giới lãnh đạo các nước kém phát triển sẽ có cái nhìn đầy hắc ám ở sự giúp đỡ của chúng ta và tin rằng một cảnh ngộ như thế cũng sẽ xảy ra với họ" ...(The Pentagon Papers, trang 221. Neil Sheehan; Hedrick Smith; E.W. Kenworthy. Fox Butterfield, Bantam Book, 1971).

Và còn những gì nữa của một đất nước Việt Nam khốn khổ đối những "đồng minh trong thế giới tự do" như Mỹ- Anh- Pháp v.v...? Lịch sử đã trả lời.

Đến đây chúng tôi xin ngưng phần này. Trước khi mời bạn đọc quay về thế kỷ thứ 18 để tìm nguồn gốc cái quái thai cộng sản, chúng tôi ghi thêm vài chi tiết của Hội Đồng Về Các Quan Hệ Đối Ngoại và việc ông Nguyễn Tất Thành (HCM) gia nhập Hội Tam Điểm tại Pháp.

Ngày 30.5.1919: 

Ủy Hội Tam Điểm Tổng Bộ Châu Âu (the Trilateral Commission, Europe Grand Lodge) tổ chức một cuộc họp bí mật trong khách sạn Majestic ở Ba Lê, Pháp. Cuộc họp này đi tới quyết định thành lập một tổ chức hoạt động ngoài công khai, tầm vóc quốc tế, có tên Viện Quốc Tế Sự Vụ (the Institute of International Affairs, IIA), đồng thời lập chi nhánh thứ nhất nằm tại Luân Đôn, nước Anh với tên Học Viện Hoàng Gia Quốc Tế Sự Vụ (the Royal Institute of International Affairs, RIIA). 

Ngày 21.7.1921

Hội Tam Điểm lập thêm chi nhánh thứ hai ở Nữu Ước, Mỹ, có tên Hội Đồng Về Các Quan Hệ Đối Ngoại (the Council on Foreign Relations, CFR). Chi nhánh ở Mỹ có một tờ báo mang tiếng nói thuộc loại "nặng ký" là tạp chí Đối Ngoại (Foreign Affairs Magazine, FAM). Điểm đặc biệt ở chỗ là hội viên của CFR ở Mỹ có cả tổng thống, bộ trưởng, giám đốc các cơ quan chính phủ v.v cho tới khoa học gia, kỹ nghệ gia, chủ nhân ngân hàng và lãnh vực truyền thông, báo chí, điện ảnh v.v. 

Ngày 29.11.2011

Tại Ba Lê, Pháp một "hội trắng đóng kín" (tenue blanche fermée) tổ chức một buổi họp tại trụ sở Grand Orient de France (GODF), gần khu Metro Cadet. Họ đã thuyết trình và chứng minh tài liệu liên quan việc ông Hồ Chí Minh từng gia nhập hội Tam Điểm. Thuyết trình viên cho biết Nguyễn Ái Quốc được "khai thị" (initie) vào ngày 14.6.1922, ở trụ sở của chi hội La Federation universelle, hệ phái GODF, số 94 Av de Sufferen. Tài liệu lưu trong văn khố là một văn thư do hội viên Tam Điểm Roger Boulanger giới thiệu thấy ghi như sau:

Nom et Prenom: Nguyen Ai Quac (tên họ).

Lieu et Date de Naissance: An Nam 15 fevrier 1895 (nơi và ngày sanh).

Profession ou Qualite civile: Retoucher Photographe dessinateur (nghề nghiệp dân sự).

Adresse: Impasse Compoint E.v 17e (địa chỉ).

Nom des FF Presentateurs: Frère Boulanger Roger 2e (tên họ những huynh đệ giới thìệu).

 Chúng ta trở lại ngày 1.5.1776.

  BĐQ Đỗ Như Quyên

Xem tiếp “Cộng sản ở Việt Nam là ai? >>

 

Web VN

 Sài Gòn Báo

Biệt Động Quân VNCH

Cựu SVSQ T. Đức Úc Châu

Cựu SVSQ T. Đức Nam CA

Đại Tá Nguyễn Huy Hùng

Hội Ái Hửu SVSQ TB Thủ Đức

Hội văn hóa người Việt Tự Do

Khoa học và đời sống

Nam Định Đồng Dế

Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Dức

Thủy Quân Lục Chiến VN

Tập Thể Chiến Sĩ VNCH

Thiết Giáp Binh QLVNCH

Truyền Tin QLVNCH

Trường Vỏ Bị Quốc Gia VN

 

Bauxite Việt Nam

Con Đường Việt Nam.

Dân Chủ ca

Dân Làm Báo

Đỗ Văn Phúc

KhoaHoc.net

Lực lượng Cứu Nguy Tổ Quốc

Ly Hương

saigonforsaigon.org

Sài Gòn báo

Saigon Times

Thư viện Việt Nam

Tự Do Ngôn Luận

Việt Nam Exodus

Việt Nam - Sài Gòn

Việt Vùng Vịnh

   

Không Quên Bạn Tù

Không Quên Đồng Bào Đau Khổ

     

DiễnĐàn | QuanĐiểm | ThờiSự | CộngĐồng | ViệtNam | ThơVăn | KhôngQuênBạnTù | HoaThờiLoạn | TàiLiệu | Media | HồiKý | TổngHội | KhuHội

Chính Việt xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng và bài vở, xin email về   baochinhviet@gmail.com